ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI - LỊCH SỬ VÀ HUYỀN THOẠI.


ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI 

TẤT ĐẠT ĐA CỒ ĐÀM HAY - SĨ ĐẠT TA CỒ ĐÀM
LỊCH SỬ VÀ HUYỀN THOẠ
I.



v Đức Phật Thích Ca sanh vào năm 624 trước Tây Lịch. Ngài nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi vào năm 544 trước Tây Lịch. 624 năm sau, Tây Phương mới bắt đầu chọn năm sinh của Đức Chúa Jesus Christ làm khởi điểm cho Dương lịch. Như vậy tính đến nay là năm 2019 thì Đức Phật đã ra đời được 2,643 năm và đã nhập Niết Bàn được 2,563 năm.

v Việt Nam và một số quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Trung Hoa, Triều Tiên ... làm Lễ Phật Đản vào ngày mồng 8 tháng 4 Âm Lịch, Ngày mồng Tám tháng Tư đã lưu truyền trở thành phong tục tập quán cổ truyền kể cả người không theo Phật giáo.

v Trong kỳ Đại lễ kỷ niệm Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Tích Lan năm 1954-1956, Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới - The World Fellowship of Buddhists đã quyết định lấy ngày 15 tháng 4 Âm lịch làm ngày kỷ niệm Đức Phật Đản Sanh.

v Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã để lại một kho tàng văn hoá Phật học vĩ đại gồm 12,601 bài pháp thoại trong suốt 45 năm hoằng hoá. Đến nay vẫn còn được dân gian trên thế giới kể cả những người theo đạo Phật và những người không theo đạo Phật nghiên cứu và học hỏi.

 I./ TIỂU SỬ TÓM TẮT ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI:

  1. v Đức Thích Ca Mâu Ni, có tên Siddhārtha Gautama, phiên âm tiếng Việt là Tất-đạt-đa Cồ-đàm, Cù-đàm, hay Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm, Cù-đàm, hay Lý-đa-tha Cồ-đàm, Cù-đàm (phiên âm Hán Việt từ tiếng Phạn: 悉達多 瞿曇).
  1. v Các tín đồ đạo Phật tôn xưng là Shakyamuni - Thích Ca Mâu Ni, phiên âm Hán Việt từ tiếng Phạn: 释迦牟尼, nghĩa là Bậc trí giả của dòng dõi Thích-ca. Hay gọi đơn giản là Phật, phiên âm Hán Việt từ tiếng Phạn: 佛. Ngài là một nhân vật có thật vừa là Thái tử, triết gia, học giả, người sáng lập Phật giáo.
  1. v Ngoài tên gọi “Phật” trong tiếng Việt, còn được gọi là “Bụt”, "Bụt-đà" hay "Bụt-đà-da". “Phật” được sử dụng phổ biến hơn “Bụt”, và có nguồn gốc từ "Buddha" hay còn gọi là "Buddhaya" có nghĩa là "thức tỉnh" hay "giác ngộ". 
  1. v Cha: Đức Vua Tịnh Phạn nước Ca-Tỳ-La-Vệ (Bắc Ấn Độ).
  1. v Mẹ: Hoàng hậu Mahãmaya (băng hà sau khi sanh Thái tử 7 ngày).
  1. v Mẹ kế: Vương phi Mahã Pajãpati Gotami (là dì ruột nuôi Thái tử cho đến khi khôn lớn).
  1. v Ngày sanh: Rằm tháng 4 Âm lịch tại vườn Lâm Tỳ Ni, nước Nepal.           
  1. v Thành hôn với công chúa Da-Du-Đa-La: Năm 16 tuổi.
  1. v Đến 29 tuổi có con đầu lòng là: La-Hầu-La.
  1. v Bỏ hoàng cung xuất gia: Ngày 8 tháng 2, vào năm 29 tuổi.
  1. v Thành đạo: Ngày 8 tháng 12. Năm 35 tuổi tại Buddha Gaya, Ấn Độ.
  1. v Hoằng pháp: 45 năm.
  1. v Nhập Niết Bàn: Rằm tháng 2, thọ 80 tuổi tại Kusinãrã, Ấn Độ.
 II./ LỊCH SỬ VÀ HUYỀN THOẠI TẤT ĐẠT ĐA CỒ ĐÀM:

v Ngày xưa tại đất nước Ấn Độ có Hoàng Hậu Maya là một người đạo đức và tràn ngập lòng từ bi. Bà là vợ của vua Tịnh Phạn thành Ca-Tỳ-La-Vệ. Bà đã lớn tuổi rồi mà chưa có con. Một ngày kia vào buổi trưa, Đức Hoàng hậu đang nằm nghỉ ngơi thì rơi vào giấc mộng, bà thấy 4 vị thiên thần nâng 4 góc giường bay thẳng lên đỉnh núi Hy-Mã-Lạp-Sơn. Nơi đây có một con voi trắng 6 ngà từ trên trời bay xuống và chui vào hông phải của bà. Hoàng hậu giựt mình tỉnh giấc, cảm thấy trong người mát mẻ dễ chịu, tinh thần sảng khoái. Ngay lúc đó là lúc Hoàng hậu đã có thai.

v Theo phong tục Ấn Độ, người phụ nữ khi mang thai phải về quê cha mẹ của mình để sanh nở. Hoàng hậu Maya cũng không ra khỏi tập tục đó. Gần ngày khai hoa nở nhụy, trên đường về quê cha mẹ, đến vườn Lâm Tỳ Ni ở ngay biên giới của hai nước Kosola - Nepal và Ca-Tỳ-La-Vệ - Bắc Ấn Độ. Hoàng hậu ra lệnh cho đoàn tuỳ tùng dừng chân nghỉ mát.

v Khi Hoàng hậu Maya nghĩ mát và đi vào rừng ngắm cảnh, bà nhìn thấy một cây to có nhiều hoa nở rất đẹp là hoa Linh Thoại hay hoa Vô Ưu. Loại hoa này 3,000 năm mới nở một lần, nhưng nếu hoa nở trái mùa, đó là dấu hiệu để báo hiệu sẽ có một vị giác ngộ tương lai sắp ra đời. 

v Khi Hoàng hậu Maya đưa tay phải lên vịn vào cành cây Vô Ưu thì Thái tử ra đời, Ngài sanh từ bụng mẹ qua bên hông phải. Lúc đó liền có 2 vị Phạm Thiên xuất hiện đỡ lấy Ngài. Hai vòi nước một ấm một lạnh do 2 con rồng phun ra từ trên cao xuống tắm cho vị hoàng tử mới sơ sanh.

v Khi Thái tử vừa lọt lòng mẹ đã bước đi bảy bước, mỗi bước có một hoa sen nở để đỡ lấy chân của Ngài. Đến bước thứ bảy Thái tử đưa một tay chỉ ngón trỏ lên trời, một ngón tay chỉ xuống đất thốt lên câu nói: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" nghĩa là "Trên trời dưới đất chỉ có cái-Ta-chân-thật là số một" ... rồi sau đó Ngài đã trở lại đời sống như một đứa bé sơ sanh bình thường khác. 

v Đức vua Tịnh Phạn - Suddhodana đặt tên cho con trai Thái Tử là Siddhattha (tiếng Sanskrit) âm tiếng Việt là Tất–Đạt–Đa hay Sĩ-Đạt-Ta, và họ là Gotama, âm tiếng Việt là Cồ Đàm. Tiếng Pãli là Siddharta Gautama, thuộc dòng dõi quí tộc Thích Ca (Sakiya).

III./ ĐỜI SỐNG THÁI TỬ SĨ-ĐẠT-TA CỒ ĐÀM BỊ BƯNG BÍT:

v Thái tử lúc nhỏ không ham thích cảnh tưng bừng nhộn nhịp của buổi lễ. Ngài thường chọn bóng mát dưới gốc cây, ngồi tréo 2 chân theo lối kiết già, trầm ngâm lặng lẽ, mắt lim dim, chăm chú vào hơi thở, định tâm.

v Vua Tịnh Phạn thấy Thái tử còn nhỏ mà không ưa thích cuộc sống ồn ào vui chơi như những trẻ con hoàng thân quốc thích khác, nên Ngài rất lo sợ, nhất là mỗi khi nhớ đến những lời tiên tri của các vị đạo sĩ rằng sau này Thái tử sẽ xuất gia tìm đạo và đắc quả Phật.

v Trong lòng vua Tịnh Phạn không muốn con mình đi tu, Ngài chỉ muốn huấn luyện cho Thái tử trở thành người tài giỏi xuất chúng về mọi mặt, để sau này trao ngai vàng cho Thái tử trị vì trăm họ.

v Vì thế nhà vua bắt đầu lên kế hoạch che đậy bưng bít không cho Thái tử thấy, biết rằng cuộc sống thế gian vốn có nhiều đau khổ và phiền lụy. Xung quanh thái tử là cuộc sống vương giả, xa hoa, đàn ca hát xướng, tràn ngập sự hoan lạc.

v Khi lên 16 tuổi, theo phong tục thời bấy giờ, Thái tử kết duyên cùng công chúa Da-Du-Đà-La (Yasodharã), một người em cô cậu cùng tuổi. Trong 13 năm chung sống cùng Công chúa, Ngài và Công chúa Da-Du-Đà-La sinh được một đứa con trai, đặt tên là La-Hầu-La (Rãhula).

III./ LỊCH SỬ XUẤT GIA VÀ THÀNH PHẬT CỦA TẤT ĐẠT ĐA CỒ ĐÀM:

v Suốt 29 năm sống trong cung vàng điện ngọc cùng công chúa xinh đẹp DaDu-Đà-La, khiến cho Thái tử lúc nào cũng cảm thấy vui vẻ hạnh phúc, được hưởng thụ mọi thứ vinh hoa trên cõi đời này. Đến một ngày nọ, Thái tử xin phụ hoàng đi thăm dân cho biết sự tình, để biết đất nước của mình hùng tráng, xinh đẹp như thế nào.

v Sau bốn chuyến du ngoạn ngoài thành Thái tử đã quan sát và nhận thấy cuộc sống của con người không hoàn toàn hạnh phúc, mà cuộc sống con người bị quay cuồng trong một vòng tròn khốn khổ, lo chạy đua, tranh giành, chụp giựt, bon chen hằng ngày, không hề có giây phút suy tư tìm cách thoát khỏi cái vòng hệ luỵ sanh, già, bệnh, tử đó. Thái tử nghĩ là mình phải làm bất cứ giá nào để vượt khỏi sự sinh diệt.

v Thái tử gặp được một vị đạo sĩ Bà La Môn nghiêm trang khả kính. Hình ảnh thong dong từ tốn của vị tu sĩ này đã mở cho Thái tử một con đường mà Ngài hy vọng sẽ đạt được giải thoát an vui. Nhận định những thích thú vật chất mà phần đông tranh giành nhau đều không thể đem lại lợi ích bền vững, chỉ có sự xuất gia, từ bỏ tất cả mùi danh bã lợi của trần gian này mới thật là chân giá trị, nên Thái tử Sĩ-Đạt-Ta dứt khoát rời bỏ cung điện với ngai vàng ngôi vua đứng đầu thiên hạ, từ giã người vợ cao sang quyền quý xinh đẹp và đứa con kháu khỉnh dễ thương vừa mới chào đời để ra đi tìm Chân lý Tịch Tịnh trường cửu.

v Hy sinh tình cảm riêng tư để ra đi không phải Thái tử ích kỷ chỉ nghĩ riêng cho bản thân mình, mà Ngài ra đi để tìm pháp tu hầu tự cứu mình và cứu hàng hàng lớp lớp chúng sanh đang lặn ngụp trong biển khổ, trong đó cho phụ hoàng, mẫu hậu, vợ con của Ngài.   
                                           
v Từ một Thái tử giàu sang vinh hiển tột bậc. Ngài trở thành một đạo sĩ nghèo nàn, không tiền của, không cửa nhà, sống nhờ lòng từ thiện của bá tánh thập phương. Ngài không có một nơi chốn nào nhất định. Chân không giày dép, đầu không mũ nón, xiêm y chỉ là những mảnh vải vụn vặn ráp lại vừa đủ để che thân cùng một bình bát để trì khất thực. Ngài tận dụng thời giờ và năng lực trong việc tìm kiếm khám phá chân lý.

v Lúc đầu Ngài tìm cầu học đạo với thầy Yoga nổi tiếng thời đó là đạo sĩ Alãrã Kãlama. Học với đạo sĩ Alãrã Kãlama, không bao lâu ngài đắc quả "Vô Sở Hữu Xứ" nghĩa là "Chỗ không có gì". Đây là trạng thái tâm thức thiền gia cảm nhận "không có gì" chung quanh mình trong lúc toạ thiền cũng như sau khi xả thiền. Tâm không dao động, không rối loạn trước các đối tượng vì đối tượng không là gì.

v Ngài tìm học đạo với vị thầy thứ hai là đạo sĩ Uddaka Rãmaputta và đã đạt được quả vị cao nhất của hệ thống thiền Yoga là "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ". Đây là trạng thái "không tri giác, mà cũng không không tri giác" nói cách khác là "hoàn toàn không nhận thức điều gì đối với môi trường xung quanh".

v Lang thang qua xứ Ma-Kiệt-Đà, Ngài gặp đạo sĩ Kiều Trần Như và bốn anh em. Cùng với họ, Ngài bắt đầu tu khổ hạnh, vì thời đó các vị tu sĩ quan niệm là phải để cảm giác đau đớn lên trên thân thì mới đạt được đạo quả. Trong vòng 6 năm đạo sĩ Cồ Đàm nổi tiếng khắp nơi về việc tu hành khổ hạnh: ngủ trên cỏ gai nhọn, ngủ một chân, không tắm, không cạo râu, không ăn no uống nhiều, chỉ ăn một hạt gạo mỗi ngày, giữa đêm khuya lạnh lẽo trầm mình xuống dòng sông…

v Với nếp sống cực kỳ kham khổ, cho đến một ngày kia thân hình tráng kiện của Bồ Tát chỉ còn da bọc bộc xương, Ngài xứng danh là đệ nhất khổ hạnh, được mọi người tôn xưng là Thánh nhân.  Ngài càng lúc càng tiều tuỵ, hai mắt như hai hố thẳm, dCa nhăn nheo, tóc lông đụng tới đâu thì rụng tới đó, Ngài gầy ốm đến nỗi da bọc xương, đi đứng không vững, nhưng tâm ngài vẫn không bị xao động.

v Một ngày kia Ngài té xỉu ở bìa rừng, may nhờ cô bé chăn cừu cứu sống bằng chén bột sữa. Khi tỉnh dậy, Ngài tỉnh ngộ, nhận ra sự sai lầm của pháp tu khổ hạnh. Ngài nhận ra thân này là quý, vì thân kiệt quệ, mệt mõi thì tinh thần cũng kiệt quệ mệt mõi không thể phát sáng, Ngài liền dứt khoát bỏ lối tu khổ hạnh cực đoan này, cũng như trước kia Ngài đã từ bỏ lối sống cực kỳ lợi dưỡng sung sướng nơi hoàng cung.

v Bây giờ Ngài chọn con đường độc lập, tức con đường trung đạo, không lợi dưỡng cũng không khổ hạnh, Ngài nhận ra mình phải biết quý cái thân này để mượn nó mà tu. Ngài nhớ lại khi còn thơ ấu, trong lúc phụ hoàng và mọi người chăm chú cử hành lễ hội với các trò vui, Ngài đã ngồi dưới bóng mát mẻ của cây tram. Ngài càng thấy rõ đây mới thật là con đường tu tập dẫn đến Giác Ngộ.

v Từ đó 5 người bạn đồng tu đã rời bỏ Ngài ra đi. Còn lại một mình, một cảnh cô độc, Ngài đi dọc theo bờ sông Ni-Liên-Thiền hướng về khu rừng cây rậm rạp khác cách xa làng mạc, ngày nay là Bồ Đề Đạo Tràng. Tại nơi đây vắng vẻ, không bóng người qua lại, Ngài chọn một gốc cây Pipphala to lớn, sau này người ta gọi cây đó là cây Bồ Đề. Ngài trải cỏ Kusha làm toạ cụ, quyết chí tham thiền và thề nếu không chứng đạo dù thịt nát xương tan Ngài cũng sẽ không rời khỏi cội cây này. Ngài phát nguyện: “Nếu không đạt thành đạo quả, ta quyết không đứng dậy và không rời khỏi chỗ này.”

v Khi ngài đang ngồi thiền thì bất chợt có một cơn mưa trái mùa rất lớn. Thần rắn Naga liền bò ra khỏi hang, quấn mình quanh chổ ngồi của ngài 7 vòng để nâng Ngài lên và dùng đầu của mình để che mưa cho Ngài. Ngài bắt đầu chú tâm vào hơi thở, rồi buông thả hơi thở, quay vào trong tâm, lặng lẽ thiền định để tìm ra những chân lý cao sâu thâm diệu hầu giải quyết bài toán phức tạp sinh già bệnh chết.

v Sau 49 ngày đêm, đạo sĩ Cồ Đàm đã lần lượt nhập Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền. Khi tâm Ngài hoàn toàn định tỉnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, bình tĩnh... hướng về tuệ giác liên quan đến sự nhớ lại những kiếp quá khứ của chính mình.

v Tất cả những gì xảy ra từ nhiều kiếp quá khứ hiện ra trong nhận thức của ngài như một cuốn phim trước mặt. Sanh ra, chết đi, tái sanh.... Hết đời này qua đời khác... Làm con người này, làm con người kia... như thế nào Ngài đều rõ biết. Đây là tuệ giác đầu tiên ngài chứng ngộ vào lúc canh Một của đêm thành đạo, gọi là Túc Mạng Minh.

v Đạo sĩ Cồ Đàm lúc đó 35 tuổi. Suốt 6 năm dài đăng đẳng, không có sự hỗ trợ từ bên ngoài, cũng không được sự hướng dẫn từ một năng lực siêu phàm nào, cô độc một mình, tự nỗ lực chiến đấu chính mình và tự mình thắp đuốc mò mẫm đi trong đêm tối.

v Kết quả đã tận diệt mọi ô nhiễm, chấm dứt mọi tiến trình tham ái và chứng ngộ thực tướng của vạn pháp, đã trở thành một vị Phật lịch sử. Vào buổi bình minh trăng tròn tháng 4 năm 588 TCN, ngài đã hoàn toàn giác ngộ trở thành một đấng chánh đẳng, chánh giác, một vị Phật.

v Ma vương Vasavatti cùng đoàn tùy tùng đã đến quấy nhiễu ngài. Một vị nữ thần từ trong lòng đất đã đánh bại ma vương để hộ pháp cho ngài. Nhờ tu tập pháp độ trong nhiều kiếp nên ngài đã nhiếp phục ma vương một cách dễ dàng. Cuối cùng ma vương cũng bị khuất phục và thành tâm đảnh lễ với Ngài.

v 3 người con gái của Ma vương vẫn không buông tha cho ngài và lại tìm cách quyến rũ ngài nhưng họ đều thất bại trước một vị toàn giác như ngài.

v Đức Phật đã chuyển pháp luân đầu tiên tại Lộc Uyển (Vườn Nai) gần thành Ba La Nại (Benares). Ngài đã giảng bài pháp đầu tiên là Tứ Diệu Đế cho 5 anh em Kiều Trần Như. Sau này cả 5 người này đều đắc quả A-la-hán.

v Vào ngày Magha (rằm tháng 6) Đức Phật đã giáo giới cho 1250 vị Tỳ kheo. Nội dung tóm tắt là: “Không làm các điều ác. Gắng làm các việc lành. Giữ tâm ý trong sạch. Chư Phật đều dạy thế”.

v Thân phụ của Đức Phật là vua Tịnh Phạn đã già yếu. Nghe tin Đức Phật giảng pháp ở thành Vương Xá (Rajagaha), vua bèn sai sứ giả đến mời Đức Phật về thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu). Cả 9 vị sứ giả vua sai đi khi đến nơi thì đều nghe được Phật thuyết pháp, xin xuất gia và thành quả A-la-hán.

v Đến vị sứ giả thứ 10 đến (Vị này tên là Kaludayi vốn trước đây từng là bạn thân của Đức Phật khi ngài còn là thái tử), sau khi nghe Phật thuyết pháp cũng xin xuất gia và đắc quả A-la-hán nhưng cũng không quên chuyển lời của vua Tịnh Phạn đến Đức Phật. Đức Phật nghe xong đã nhận lời và cùng các thánh đệ tử lên đường về thăm gia đình.

v Ngày thứ 2 sau khi về thăm nhà, nhà vua mở tiệc ở Hoàng cung và mời Đức Phật cùng thánh đệ tử thọ trai. Sau khi thọ trai xong, Đức Phật cùng vua cha và 2 thánh đệ tử là ngài Xá Lợi Phất (Sariputta) và ngài Mục Kiền Liên (Moggalana) đã đến phòng công chúa Da Du Đà La. Sau khi vào phòng, Đức Phật đã ngồi vào chỗ sắp sẵn. Sau khi công chúa đảnh lễ ngài, ngài đã thuyết giảng chuyện bổn sanh Candakinnara để nói về mối liên hệ giữa ngài và công chúa.

v Ngài đã khen ngợi công chúa: “Không phải chỉ trong kiếp sống cuối cùng của Như Lai mà trong tiền kiếp, nàng đã bảo vệ, kính mộ và trung thành với Như Lai”. Sau đó ngài đã an ủi công chúa và giã từ hoàng cung. Về sau công chúa Da Du Đà La cũng xuất gia theo Đức Phật và đã đắc quả A-la-hán. Trong hàng các vị tăng ni thì bà Da Du Đà La đã chứng đắc thần thông cao nhất (Maha Abhinna).

v Ngày thứ 3 sau khi về thăm nhà của Đức Phật cũng chính là ngày cưới của hoàng tử Nanda. Hoàng tử Nanda vốn là anh em cùng cha khác mẹ với Đức Phật. Trong lễ cưới Đức Phật trao cho Nanda chiếc bát, đọc kinh cầu phúc rồi ngài vờ như quên thâu lại và đi về tịnh xá. Nanda vì kính nể Đức Phật nên phải ôm bát đi theo. Về sau ngài chứng được quả A-la-hán.

v Vào ngày thứ 7 khi Đức Phật lưu lại quê nhà, công chúa Da Du Đà La đã mặc y phục đàng hoàng cho La Hầu La (Rahula) và chỉ vào Đức Phật mà bảo La Hầu La hãy đến xin tài sản của cha con đi. La Hầu La lúc ấy được 7 tuổi, là con trai duy nhất của Đức Phật, đã đến bên Đức Phật và bạch rằng: “Xin ngài hãy trao tài sản của ngài cho con vì tài sản của ngài cũng là của con”. Đức Phật nghĩ thầm: “Nó muốn gia tài của cha, nhưng tài sản trong thế gian quả thật đầy phiền não. Như Lai sẽ ban cho nó gia tài cao thượng gồm bảy phần mà Như Lai đã thâu đạt dưới cội bồ đề. Như Lai sẽ giúp cho nó trở thành sở hữu chủ của một gia tài siêu thế.” Thế rồi ngài làm lễ xuất gia cho La Hầu La và cho theo ngài Xá Lợi Phất thọ giáo.

v Khi vua Tịnh Phạn hấp hối, Đức Phật đã đến bên giường bệnh và giảng pháp lần cuối cùng cho vua cha. Vua Tịnh Phạn nghe xong liền đắc quả A-la-hán. Sau khi hưởng sự an lạc trên trần thế được 7 ngày, vua Tịnh Phạn nhập niết bàn.

v Khi tròn 80 tuổi, Đức Phật biết việc thuyết pháp giáo hóa chúng sinh của mình đã viên mãn, đó là lúc Như Lai sẽ nhập niết bàn. Ngài đã nói với ngài A Nan là 3 tháng nữa ngài sẽ nhập diệt. A Nan thành khẩn cầu xin Đức Phật sống thêm 1 kiếp nữa nhưng Đức Phật đã từ chối và giảng pháp vô thường.

v Đức Phật đến vườn cây Sala ở Kusinara, nơi có bộ tộc Mallas ở, và bảo Đại đức Ananda chuẩn bị chỗ nằm, để Đức Phật yên nghỉ, đầu hướng Bắc, nằm nghiêng mình, chân phải để trên chân trái, bình thản, tỉnh táo. Lúc này có 1 đạo sĩ tên là Subhadda xin vào gặp Đức Phật. Sau khi nghe Phật thuyết giảng, Subhadda xin Phật xuất gia. Đây cũng là vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật. Sau đó Đức Phật im lặng từ từ đi vào thiền định và nhập Niết Bàn vào năm 543 TCN.

 Đức Phật Thích Ca được tôn vinh là Giáo chủ của tín đồ Phật giáo ở cõi Ta Bà này. Ngài đã để lại một kho tàng giáo lý giá trị. Hiện nay Đạo Phật có khoảng trên 800 triệu tín đồ trên thế giới và đạo Phật cũng có hệ thống nghi lễ hẵn hoi. Ngài để lại một kinh nghiệm tu tập để con người thoát khỏi sự kiềm toả của sự đau khổ để được sống trong trạng thái an lạc hạnh phúc gọi là Niết Bàn, các khái niệm thiện tâm, nhân ái và bình đẳng, cộng đồng, xã hội.

 Đối với giáo lý nhà Phật thì Niết Bàn chính là trạng thái tĩnh lặng, trong sáng, không dính mắc với mọi thứ trên đời này, nhưng vẫn luôn sáng suốt vì trí huệ bát nhã đã được khai mở phát huy. Người nào kinh nghiệm được trạng thái Niết Bàn là người đó thoát khổ, giải thoát. Như vậy Niết Bàn không phải ở đâu xa mà nó ở ngay trong tâm của người liễu đạo bây giờ và ở đây.

Cuộc đời vĩ đại của Đức Phật từ lúc đản sanh đến lúc nhập Niết Bàn luôn là bài học lớn có giá trị mặc dù đã trãi qua hơn 25 thế kỷ. Suốt cuộc đời hành đạo của mình, Đức Phật chỉ nhận mình là bậc Đạo sư, là người dẫn đường. Ngài luôn dạy các đệ tử phải tự mình tu tập và cũng chỉ tự bản thân mình mà thôi, không ai có thể giúp đỡ được.


Nguồn sưu tầm sách Phật giáo!

SẢN PHẨM TRÊN SHOPEE - https://shopee.vn/rich_coco

=>SẢN PHẨM KHUYẾN MÃI TRÊN SHOPEE - https://shopee.vn/rich_coco

KHUYẾN MÃI TRÊN TIKTOK: https://vt.tiktok.com/ZS9kq23fDVwf3-E9qs2/

Xây kênh thương hiệu cá nhân:

HỌC TIẾNG ANH:

@amazingenglishfunfacts Người Mới Học Tiếng Anh Nên Xem! Bí quyết Học tiếng Anh qua vận động siêu vui! | Amazing English Fun Facts #HocTiengAnhQuaVanDong #EnglishForFun #tienganhgiaotiep ♬ âm thanh gốc - Amazing English Fun Fact

Bài đăng phổ biến của Mr. Trương Lam Sơn:

XEM TẤT CẢ BÀI VIẾT TRÊN BLOG CỦA MR. TRƯƠNG LAM SƠN:

FOLLOW US