NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM



 NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM


I./ PHẬT GIÁO VIỆT NAM CÓ NGUỒN GỐC TỪ ĐÂU?
Phật giáo từ Ấn Độ du nhập Việt Nam đã trên hai ngàn năm. Ngay từ rất sớm, Phật giáo đã được tiếp nhận và đã bản địa hóa để trở thành một tư tưởng chủ đạo trong nền văn hóa dân tộc.
Do vị trí địa lý của nước ta nằm ở bán đảo Đông Dương, trên con đường giao thông đường bộ cũng như đường thủy giữa hai lục địa, nơi sản sinh những nền văn minh lớn của loài người là Ấn Độ và Trung Quốc. Do đó, từ rất sớm, các nền văn hóa của hai nước này đã đi theo các đoàn thương nhân đến với nước ta, trong đó có Phật giáo.
Theo lịch sử, tư tưởng, văn học của Phật giáo Việt Nam thì Phật giáo được truyền vào nước ta trực tiếp từ Ấn Độ, trước cả Trung Quốc, nhưng chính xác vào năm nào thì chưa thấy ai khẳng định.
Vào khoảng thế kỷ thứ II dương lịch, Phật giáo đã trở nên thịnh hành ở nước ta với một cơ sở mạnh mẽ thể hiện qua hệ thống những cứ liệu về số lượng Tăng sĩ, chùa chiền, thành quả của công tác dịch thuật kinh điển, v.v... tại trung tâm Luy Lâu. Trung tâm Luy Lâu thuở đó là Giao Châu là một trung tâm Phật giáo hình thành sớm nhất trong khu vực, trước cả các trung tâm của Trung Quốc như Bành Thành hay Lạc Dương.
Về con đường du nhập, các nghiên cứu mới đây cho biết rằng, Phật giáo từ Ấn Độ du nhập nước ta chủ yếu theo đường biển, một phần khác là theo đường bộ, con đường mà các nhà sử học thường gọi là Con đường Tơ lụa.

II./ NGƯỜI PHẬT TỬ VIỆT NAM ĐẦU TIÊN LÀ AI?
Trong sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, bằng cách chứng minh qua truyền thuyết Chử Đồng Tử, Chử Đồng Tử là người Phật tử Việt Nam đầu tiên liên hệ và học Phật pháp trực tiếp qua người thầy Ấn Độ là nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên (Cửa Sót, tĩnh Hà Tĩnh ngày nay).
Niên đại của Chử Đồng Tử cũng được tác giả xác lập là có thể khoảng vào thời Hùng Nghị Vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ II-III. Ngoài ra Tiên Dung cũng là những người Phật tử Việt Nam đầu tiên hiện biết được tên tuổi đại diện của Phật giáo trên nước ta là vào thế kỷ thứ II-III.
Tư tưởng Phật giáo được truyền bá đến nước ta trong buổi đầu là tư tưởng Phật giáo có tính chất quyền năng. Nghĩa là quan niệm cơ bản như Phật là con người siêu nhiên, có khả năng làm tất cả những điều ngoài óc tưởng tượng bình thường của con người, như có thể biến hóa khôn cùng, có thể làm mọi điều theo ý muốn, v.v...
Đạo Phật mà Chử Đồng Tử và Tiên Dung tiếp nhận từ nhà sư Phật Quang còn mang nặng tính chất Ấn Độ. Sau này phật tử Việt Nam tiếp sau, như Man Nương, là người trở thành Phật Mẫu trong tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam, được thờ tại chùa Phúc Nghiêm, làng Mãn Xá, gần Luy Lâu. Và đặc biệt là sự ra đời của tín ngưỡng Phật điện hay Tứ pháp mà tiêu biểu là Phật Pháp Vân, đã thể hiện sự hòa nhập của Phật giáo vào văn hóa vốn có của bản địa, là bước Việt hóa Phật giáo và Phật giáo hóa văn hóa bản địa đầu tiên.
Các vị thần mà cư dân nông nghiệp nước ta thờ tự như thần mây, thần mưa, thần sấm và thần sét được Phật hóa, trở thành Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi, và Phật Pháp Điện. Qua sự kiện này, chúng ta khẳng định rằng Phật giáo ngay từ ban đầu không hề có sự chống đối với nền văn hóa bản địa, và nền văn hóa bản địa cũng không có dấu hiệu gì phản kháng với hệ thống triết lý này.

III./ NHỮNG PHẬT TỬ TIÊU BIỂU THẾ HỆ ĐẦU TIÊN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM:
Sau Chử Đồng Tử và Tiên Dung, hai gương mặt được xem là những Phật tử Việt Nam đầu tiên có nhiều gương mặt hoặc là Tăng sĩ bản địa, hoặc từ nước ngoài đến như Khâu Đà La và Ma Ha Kỳ Vực đến nước ta vào cuối thế kỷ thứ II.
Các sĩ nhân Trung Quốc đến tỵ nạn như: Tu Định, Man Nương (sống khoảng 175-255)...đã sinh sống hoặc đến ở nước ta một thời gian; trong đó có những Phật tử, cao tăng như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Đạo Thanh, Huệ Thắng, Đạo Thiền... tiếng tăm vang vọng đến kinh đô của kẻ đô hộ.
Mâu Tử chính là người đầu tiên dùng Phật giáo làm cơ sở để đánh tan luận điệu tự tôn dân tộc của dân tộc Hán.
Khương Tăng Hội, vị Tăng Việt Nam đầu tiên thành công rực rỡ trong công tác khai hóa truyền bá Phật giáo ở Trung Quốc.
Tăng sĩ Việt Nam là nhà dịch thuật Việt Nam Đạo Thanh, sinh khoảng năm 220, mất năm 300, người đã bút thọ cho bản dịch Pháp Hoa tam muội kinh của Chi Cương Lương Tiếp, dịch từ tiếng Phạn sang chữ Hán, lưu hành tại nước ta khoảng sau năm 258.
Chi Cương Lương Tiếp, một nhà sư người gốc Ấn Độ đến ở và làm việc tại Việt Nam vào khoảng những năm 256.
Vu Pháp Lan (khoảng 270-320) và Vu Đạo Thúy (khoảng 285-315), hai danh tăng của Phật giáo Trung Quốc đến Việt Nam vào thế kỷ IV.,
Chí Hàm, tác giả của Triệt tâm ký (sống ở nước ta khoảng từ năm 300 đến 360).
Đạo Cao và Pháp Minh là hai vị Tăng người Việt Nam, ngài Đạo Cao sinh khoảng năm 365 và mất năm 445, ngài Pháp Minh sinh khoảng năm 370 và tịch khoảng năm 460. Ngài Đạo Cao được biết thêm là tác giả của tác phẩm Tá âm, Đạo Cao pháp sư tập.
Lý Miễu là sứ quân của Giao Châu. Có giả thiết cho rằng, Lý Miễu có thể là tên khác của Lý Trường Nhân (khoảng 420-470). Căn cứ vào cách xưng hô của hai vị thầy của Lý Miễu, thì ông phải là một trong những vị hoàng đế của nhà nước độc lập Việt Nam thời bấy giờ.
Ở Trung Quốc, nổi bật đáng chú ý của cao trào đó là sự ra đời của tác phẩm Quân thiện luận của một vị sư nổi tiếng đa tài là Huệ Lâm, người từng có một vai trò chính trị quan trọng trong triều đại của Tống Văn đế cầm quyền, từng được mệnh danh là Hắc y tể tướng hay Tể tướng thầy tu.
Trong đó, sư Huệ Lâm công kích Phật giáo, nói đúng hơn là phê phán hiện trạng Phật giáo Trung Quốc đương thời, một cách kịch liệt. Tạo làn sóng phản ứng giận dữ trong hàng ngũ Phật giáo, kết quả là sư Huệ Lâm bị trục xuất sang Việt Nam vào khoảng sau năm 456 và sống những năm cuối đời tại nước ta.
Đến thời điểm này, nền Phật giáo được thiết lập bởi Mâu Tử và sau đó được củng cố, bổ sung bởi ngài Khương Tăng Hội tỏ ra không còn là niềm tin tuyệt đối ở nước ta, những thắc mắc mà Lý Miễu nêu ra là đại diện cho người Phật tử Việt Nam thời bấy giờ. 
Nền tư tưởng Phật giáo quyền năng bị lay chuyển thực sự. Phật giáo nước ta rơi vào cuộc khủng hoảng về tư tưởng, cuộc đấu tranh tư tưởng đó đến hồi gay gắt với sự kiện sư Đàm Hoằng tự thiêu tại chùa Tiên Sơn năm 455.
Hồi kết của cuộc đấu tranh này ra sao, sẽ được đề cập qua việc tìm hiểu các nhân vật Phật giáo sau đó, thời đại được xây dựng trên nền tảng tư tưởng Phật giáo quyền năng, đó là các ngài Huệ Thắng và Đạo Thiền.
Ngài Huệ Thắng thọ 70 tuổi và mất vào khoảng những năm 502-519, sống tại chùa núi Tiên Châu của nước ta, chuyên hành trì kinh Pháp Hoa. Ngài học Thiền (38) với một vị Tăng nước ngoài tên là Đạt Ma Đề Bà (Dharmadeva).
Ngài Đạo Thiền với công tác giảng dạy và hoằng pháp thành công rực rỡ tại Trung Quốc, là 1 vị Tăng Việt Nam lại sang giảng dạy, hoằng pháp thành công rực rỡ tại Trung Quốc, đã để lại cho giới trí thức tại đây niềm kính trọng sâu sắc.
Nhà nước độc lập Vạn Xuân ra đời với sự kiện xưng đế của Lý Bôn năm 544 là một sự kiện trọng đại đánh dấu một bước ngoặt mới của lịch sử dân tộc, một thời đại phát triển mới của Phật giáo Việt Nam.


IV./ CÔNG CUỘC CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO ĐẾN SAU NÀY:
Thời Pháp thuộc, Việt Nam bị chia làm ba miền, và chính quyền tìm mọi cách phát triển Công giáo, thì Phật giáo Việt Nam càng bị chèn ép. Một số ngôi chùa lớn cũng bị phá hủy, làm suy giảm các kinh sách tại các chùa.
Đầu thế kỉ 20, trên thế giới xuất hiện nhiều phong trào tìm hiểu khôi phục lại các giá trị của Phật giáo, chấn hưng Phật học. Bắt đầu từ cư sĩ David Hewavitarane, người Sri Lanka, sau này xuất gia thành đại đức Dharmapala, phong trào lan rộng nhanh chóng.

Khoảng năm 1920, Việt Nam duy trì các chùa lớn do các hòa thượng dẫn dắt như:
  1. Tại miền Nam: Thiền sư Thích Từ Phong giảng dạy tại chùa Giác Hải; Thiền sư Khánh Hòa tại chùa Tiên Linh; Thiền sư Chí Thành tại chùa Phi Lai, chùa Giác Hoa; Thiền sư Huệ Quang tại chùa Long Hòa; Thiền sư Khánh Anh tại chùa Long An.
  2. Tại miền Trung: Thiền sư Tuệ Pháp giảng dạy tại chùa Thiên Hưng; Thiền sư Thanh Thái chùa Từ Hiếu; Thiền sư Đắc Ân chùa Quốc Ân; Thiền sư Tâm Tịnh chùa Tây Thiên; Thiền sư Phước Huệ chùa Thập Tháp; Thiền sư Phổ Tuệ chùa Tĩnh Lâm.
  3. Tại miền Bắc: Hòa Thượng Thích Thanh Hanh giảng dạy tại chùa Vĩnh Nghiêm; chùa Bà Đá cũng là một đạo tràng lớn; Thiền sư Thích Thanh Thao - Đỗ Văn Hỷ in ấn kinh sách rất nhiều.

Những vận động đầu tiên nhằm chấn hưng Phật giáo được các Tăng sĩ và Cư sĩ viết và đăng lên các báo từ những năm 1920. Phong trào chấn hưng có thể nói được khởi xướng từ Thiền sư Khánh Hòa tại miền Nam, thiền sư Phước Huệ tại miền Trung, và thiền sư Thanh Hanh tại miền Bắc. Ba vị được tôn là Tổ của phong trào.
Tiếp đó đã xuất hiện thêm một số hội như Hội Lưỡng Xuyên Phật học tại Trà Vinh; Hội Phật học Kiêm Tế tại Rạch Giá, ra tạp chí Tiến hóa; Hội Tịnh độ Cư sĩ tại Chợ Lớn của giới cư sĩ, ra tạp chí Pháp Âm; Hội Thiên Thai Thiền Giáo tông Liên hữu do Thiền sư Huệ Đăng sáng lập năm 1934 tại Bà Rịa; Hội Phật giáo Tương tế do trụ trì chùa Thiên Phước là Lê Phước Chi thành lập ở Sóc Trăng. Tại miền Bắc có hội Bắc Kỳ Phật giáo Cổ Sơn môn.
Giai đoạn 1945 – 1954: Trong giai đoạn kháng chiến, tỉnh nào cũng thành lập Ủy ban Phật giáo Cứu quốc. Giai đoạn này có nhiều tổ chức được chuyển đổi, thành lập, trong đó có 6 tổ chức lớn nhất tại ba miền, mỗi miền 1 tổ chức của Tăng sĩ, 1 tổ chức của Cư sĩ.
Năm 1951, 6 tổ chức ba miền họp tại Huế thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức thống nhất, do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội trưởng, chức Thượng Thủ và Giám luật luân chuyển giữa các miền. Đức Đệ nhất Thượng thủ là Hòa thượng Thích Tuệ Tạng ở miền Bắc. Tuy nhiên Tổng hội chỉ là một tổ chức hình thức, không có quyền điều hành kiểm soát. Mỗi hội vẫn hoạt động riêng biệt.
Giai đoạn 1954 – 1975: Sau Hiệp định Genève chia cắt đất nước, Tổng hội Phật giáo Việt Nam cũng bị chia cắt. Điều này không ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động, vì trên thực tế các Hội vẫn hoạt động độc lập. Năm 1958, các tổ chức của Tổng hội tại miền Bắc thống nhất lại thành Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam. năm 1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập tại miền Nam, nòng cốt chính là từ các tổ chức thuộc Tổng hội Phật giáo Việt Nam.
Giai đoạn 1975 – 1981: Sau khi thống nhất đất nước, tại miền Bắc chỉ còn một tổ chức là Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam; còn tại miền Nam, bên cạnh tổ chức lớn nhất là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất còn có một số tổ chức khác.
Ban vận động Thống nhất Phật giáo được thành lập, do Hòa thượng Thích Trí Thủ đứng đầu, nhằm thống nhất các tổ chức. Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất các tổ chức Phật giáo trong nước.

Theo Chính quyền Việt Nam, đây là Giáo hội Phật giáo duy nhất được Nhà nước công nhận, các tổ chức khác phải gia nhập Giáo hội hoặc giải tán. Tuy vậy, vẫn có những tổ chức, tự viện đứng ngoài Giáo hội này, tiêu biểu như phong trào phục hoạt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Nguồn Sưu tầm sách phật giáo!

SẢN PHẨM TRÊN SHOPEE - https://shopee.vn/rich_coco

=>SẢN PHẨM KHUYẾN MÃI TRÊN SHOPEE - https://shopee.vn/rich_coco

KHUYẾN MÃI TRÊN TIKTOK: https://vt.tiktok.com/ZS9kq23fDVwf3-E9qs2/

Xây kênh thương hiệu cá nhân:

HỌC TIẾNG ANH:

@amazingenglishfunfacts Người Mới Học Tiếng Anh Nên Xem! Bí quyết Học tiếng Anh qua vận động siêu vui! | Amazing English Fun Facts #HocTiengAnhQuaVanDong #EnglishForFun #tienganhgiaotiep ♬ âm thanh gốc - Amazing English Fun Fact

Bài đăng phổ biến của Mr. Trương Lam Sơn:

XEM TẤT CẢ BÀI VIẾT TRÊN BLOG CỦA MR. TRƯƠNG LAM SƠN:

FOLLOW US