VĂN BẢN TÓM TẮT NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH
TPP
Chào bạn.
Vào ngày 4/10/2015, Bộ trưởng
của 12 nước tham gia hiệp định TPP gồm Úc, Brunei Darussalam, Canada, Chile, Nhật
Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ, và Việt Nam đã tuyên bố
kết thúc đàm phán với kết quả là một Hiệp định có những tiêu chuẩn cao, tham vọng,
toàn diện và cân bằng với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ tạo ra
và duy trì việc làm; tăng cường đổi mới, năng suất, và sức cạnh tranh; nâng cao
mức sống; giảm đói nghèo ở Các nước TPP ký kết; đồng thời thúc đẩy quản lý hiệu
quả, minh bạch, bảo vệ người lao động, và bảo vệ môi trường.
Việc ký kết hiệp định TPP với
các tiêu chuẩn cao mới cho thương mại và đầu tư tại khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương sẽ là một bước gần hơn đến mục tiêu cuối cùng là mở cửa thương mại và hội
nhập cho toàn khu vực. MỜi bạn xem bảng dịch toàn văn bản tóm tắt Hiệp định Đối
tác Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sang tiếng Việt như sau:
A./ NỘI DUNG CHÍNH HIỆP ĐỊNH
TPP:
Có 8 đặc điểm chính đã làm
TPP trở thành một Hiệp định quan trọng của thế kỷ 21, đặt ra các tiêu chuẩn mới
cho thương mại toàn cầu:
1/ - Tiếp cận thị trường
toàn diện: Hiệp định TPP đã xóa bỏ hoặc giảm thuế quan và các rào cản phi thuế
quan một cách đáng kể đối với mua bán hàng hóa và dịch vụ, bao trùm một mảng lớn
về thương mại, hàng hóa, dịch vụ, và đầu tư nhằm tạo ra các cơ hội mới và lợi
ích cho doanh nghiệp, công nhân, và người tiêu dùng của Các nước TPP ký kết.
2/ - Cách tiếp cận các cam
kết khu vực: Hiệp định TPP hỗ trợ sự phát triển sản xuất, chuỗi cung ứng, và thương
mại liền mạch, tăng cường hiệu quả, tạo và hỗ trợ việc làm, nâng cao mức sống,
tăng cường các nỗ lực bảo tồn, hỗ trợ hội nhập xuyên biên giới, cũng như mở cửa
thị trường trong nước.
3/ - Giải quyết các thách
thức thương mại mới: Hiệp định TPP thúc đẩy sự đổi mới, năng suất, và tính cạnh
tranh nhờ vào việc xem xét giải quyết các vấn đề mới, trong đó có phát triển
kinh tế kỹ thuật số và vai trò của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế
toàn cầu.
4/- Thương mại toàn diện:
Hiệp định TPP bao gồm các yếu tố mới nhằm đảm bảo các nền kinh tế ở các mức độ
phát triển khác nhau và các doanh nghiệp có quy mô khác nhau đều có thể đạt được
lợi ích từ thương mại. Hiệp định TPP bao
gồm cam kết giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiểu được Hiệp định TPP, nắm bắt
các cơ hội, và buộc chính quyền các nước tham gia Hiệp định TPP phải chú ý đến
những thách thức đặc thù của mình. Hiệp
định TPP cũng bao gồm những cam kết cụ thể về phát triển và xây dựng năng lực
thương mại để đảm bảo rằng tất cả các Bên có thể tuân thủ cam kết trong Hiệp định
TPP và tận dụng được những lợi ích.
5/- Nền tảng hội nhập khu vực:
Hiệp định TPP được định hình như một nền tảng cho hội nhập kinh tế khu vực và
nhắm đến cả những nền kinh tế khác trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
6/- Hiệp định TPP bao gồm
30 chương: về thương mại và các vấn đề liên quan đến thương mại, từ thương mại
hàng hóa đến hải quan và trợ giúp thương mại; biện pháp vệ sinh dịch tễ; rào cản
kỹ thuật đối với thương mại; biện pháp phòng vệ thương mại; đầu tư; dịch vụ; thương
mại điện tử; mua sắm công; sở hữu trí tuệ; lao động; môi trường; các chương
ngang nhằm mục đích đảm bảo hiệp định TPP tận dụng được các tiềm năng về phát
triển, năng lực cạnh tranh, và sự toàn diện; giải quyết tranh chấp, các điều
khoản ngoại lệ, và điều khoản thi hành.
7/- Hiệp định TPP còn đưa
vào các vấn đề thương mại mới và các vấn đề xuyên suốt, bao gồm các vấn đề liên
quan đến Internet và nền kinh tế kỹ thuật số, sự tham gia của các doanh nghiệp
nhà nước trong đầu tư và thương mại quốc tế , khả năng của các doanh nghiệp nhỏ
để tận dụng lợi thế của các hiệp định thương mại, và các chủ đề khác.
8/- Hiệp định TPP kết nối một
nhóm gồm nhiều nước đa dạng về mặt địa lý, ngôn ngữ và lịch sử, kích thước và mức
độ phát triển. Tất cả các nước ký kết Hiệp định TPP nhận thấy rằng sự đa dạng
là một tài sản đặc thù, nhưng cũng đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ, xây dựng năng lực
cho các nước TPP kém phát triển hơn, và phát triển năng lực để thực hiện những
nghĩa vụ mới trong một số trường hợp trong thời gian chuyển tiếp đặc biệt và có
cơ chế cho phép một số Bên thêm thời gian.
B./ 30 CHƯƠNG TÓM TẮT CÁC
QUY ĐỊNH THƯƠNG MẠI TRONG KHU VỰC HIỆP ĐỊNH TPP:
Văn bản tóm tắt 30 chương
trong TPP có bao gồm các bảng biểu và phụ lục được đính kèm các chương của Hiệp
định TPP liên quan đến thương mại hàng hóa và dịch vụ, đầu tư, mua sắm công, và
tạm nhập cảnh cho doanh nhân:
1./ Chương 1- Quy định
chung và các định nghĩa:
Bên ký kết hiệp định TPP hiện
đã có các thỏa thuận với nhau. Các quy định ban đầu và định nghĩa chung trong
chương này thừa nhận rằng Hiệp định TPP có thể tồn tại song song với các thỏa
thuận thương mại quốc tế giữa các Bên, bao gồm Hiệp định WTO, các hiệp định
song phương và khu vực. Chương này cũng cung cấp định nghĩa của các thuật ngữ được
sử dụng trong nhiều chương khác của Hiệp định.
2./ Chương 2 - Thương mại
hàng hóa:
Các Bên đồng ý xoá bỏ và cắt
giảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa công nghiệp, xóa bỏ
hoặc cắt giảm thuế quan và các chính sách hạn chế khác về hàng hoá nông nghiệp.
Hầu hết việc loại bỏ thuế
quan đối hàng công nghiệp sẽ được thực hiện ngay lập tức, mặc dù thuế đối với một
số sản phẩm sẽ được loại bỏ theo một khung thời gian dài hơn như các Bên đã thỏa
thuận. Việc cắt giảm thuế cụ thể theo thỏa thuận của các Bên có trong lịch
trình bao gồm tất cả các mặt hàng. Các Bên sẽ công bố tất cả các sắc thuế và
thông tin khác liên quan đến thương mại hàng hóa để đảm bảo rằng các doanh nghiệp
nhỏ và vừa cũng như các công ty lớn có thể tận dụng lợi thế của TPP.
Các Bên cũng đồng ý không
áp đặt các yêu cầu bao gồm những điều kiện như tỷ lệ sản xuất của địa phương do
một số nước áp đặt mà các công ty cần tuân thủ để có lợi ích thuế quan.
Ngoài ra, các Bên cũng đồng
ý không áp đặt các hạn chế và thuế không đồng nhất của WTO đối với nhập khẩu và
xuất khẩu , bao gồm cả hàng hóa tái sản xuất – vốn sẽ thúc đẩy việc tái chế các
bộ phận thành các sản phẩm mới. Các Bên giữ nguyên các yêu cầu về nhập khẩu hoặc
giấy phép xuất khẩu sẽ thông báo cho nhau về các thủ tục để tăng tính minh bạch
và tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy thương mại.
Các Bên sẽ loại bỏ hoặc cắt
giảm thuế quan và chính sách hạn chế khác đối với các sản phẩm nông nghiệp nhằm
mục đích tăng cường thương mại nông nghiệp trong khu vực và tăng cường an ninh
lương thực. Ngoài loại trừ hoặc cắt giảm thuế quan, các Bên đồng ý thúc đẩy cải
cách chính sách, kể cả việc loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp, làm việc
cùng nhau trong WTO để xây dựng quy định về doanh nghiệp xuất khẩu thương mại
nhà nước, tín dụng xuất khẩu, và giảm thời gian hạn chế xuất khẩu lương thực để
cải thiện an ninh lương thực trong khu vực.
Các Bên cũng đã đồng ý tăng
tính minh bạch và hợp tác trên một số hoạt động liên quan đến công nghệ sinh học
nông nghiệp.
Các tiếp cận ưu đãi được
cung cấp thông qua Hiệp định TPP sẽ tăng cường thương mại giữa các quốc gia TPP
trong một thị trường gồm 800 triệu người và sẽ hỗ trợ việc làm chất lượng cao
trong tất cả 12 nước thành viên.
3./ Chương - Dệt may:
Các Bên đồng ý xoá bỏ thuế
quan đối với hàng dệt và may mặc, các ngành công nghiệp có đóng góp quan trọng
cho tăng trưởng kinh tế tại thị trường của một số Bên. Hầu hết các sắc thuế sẽ
được xóa bỏ ngay lập tức, mặc dù thuế đối với một số sản phẩm nhạy cảm sẽ được
xóa bỏ trong khung thời gian dài hơn theo thỏa thuận của các Bên.
Chương này cũng bao gồm các
quy định cụ thể xuất xứ, trong đó có yêu cầu về việc sử dụng của các loại sợi
và vải trong khu vực Hiệp định TPP nhằm thúc đẩy chuỗi cung ứng và đầu tư vào
lĩnh vực này trong khu vực nhờ cơ chế áp dụng "danh sách ngắn các nhà cung
cấp" cho phép việc sử dụng các loại sợi và vải nhất định vốn không có sẵn
trong khu vực.
Ngoài ra, chương này cũng
bao gồm các cam kết về hợp tác hải quan và thực thi để ngăn chặn tình trạng trốn
thuế, buôn lậu và gian lận, cũng như các biện pháp tự vệ đặc biệt đối với ngành
dệt để ứng phó với thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm trọng
cho ngành công nghiệp trong nước trong trường hợp nhập khẩu ồ ạt.
4./ Chương 4 - Quy tắc xuất
xứ:
Để cung cấp các quy tắc xuất
xứ đơn giản, thúc đẩy chuỗi cung ứng khu vực, và giúp đảm bảo rằng các nước
tham gia Hiệp định TPP là những Bên hưởng lợi chính của Hiệp định chứ không phải
các nước khác, 12 Bên đã nhất trí về một bộ quy tắc xuất xứ để xác định liệu một
hàng hóa cụ thể có xuất xứ từ Hiệp định TPP và do đó đủ điều kiện để nhận được ưu
đãi thuế quan Hiệp định TPP. Các quy tắc xuất xứ cụ thể được đính kèm với toàn
văn Hiệp định TPP.
Hiệp định TPP có quy định về
"tích lũy": nguyên liệu đầu vào từ một trong các Các nước TPP ký kết
được xem như nguyên vật liệu từ một nước ký kết khác nếu nguyên liệu đó được sử
dụng để sản xuất ra một sản phẩm tại bất kỳ nước ký kết nào.
Các Bên cũng đã đặt ra các
quy tắc nhằm đảm bảo doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạt động trên toàn khu vực Hiệp
định TPP bằng cách tạo ra một hệ thống chung trong Hiệp định TPP cho phép hiển
thị và xác minh hàng hoá sản xuất trong khu vực TPP đáp ứng các quy tắc xuất xứ.
Nhà nhập khẩu sẽ có thể yêu
cầu áp dụng ưu đãi thuế quan, miễn là họ có tài liệu chứng minh đủ điều kiện áp
dụng. Ngoài ra, chương này cũng cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền các thủ tục
để xác minh các yêu cầu này một cách thích hợp.
5./ Chương 5- Hải quan và
thuận lợi hóa thương mại:
Nhằm bổ sung cho các nỗ lực
tạo thuận lợi cho thương mại khi gia nhập WTO , các Bên đã nhất trí về quy định
tăng cường thuận lợi hóa thương mại, nâng cao tính minh bạch trong thủ tục hải
quan, và đảm bảo sự chính trực của cơ quan hải quan.
Những quy định này sẽ giúp
các doanh nghiệp thuộc Hiệp định TPP, bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa, bằng
cách khuyến khích việc đơn giản hóa thủ tục hải quan và thủ tục tại biên giới,
và thúc đẩy chuỗi cung ứng khu vực. Các Bên đã nhất trí về các nguyên tắc minh
bạch, bao gồm xuất bản quy định pháp luật về hải quan của mình, ban hành quy định
về giải phóng hàng mà không có những trì hoãn không cần thiết, và quy định về
khế ước hoặc 'thanh toán bắt buộc’ nếu cơ quan nơi hải quan vẫn chưa có quyết định
về số tiền thuế hoặc phí còn nợ.
Các Bên đồng ý về quy tắc
xác định trước trị giá hải quan và các vấn đề khác có thể giúp doanh nghiệp lớn
nhỏ có thể dự đoán trước trong thương mại. Các Bên cũng đồng ý với các quy định
về xử phạt trong lĩnh vực hải quan nhằn đảm bảo các chế tài được thực hiện một
cách công bằng và minh bạch.
Do tầm quan trọng của vận
chuyển nhanh đối với các ngành kinh doanh bao gồm cả các công ty nhỏ và vừa,
các nước Hiệp định TPP đã đồng ý thực hiện thủ tục hải quan rút gọn cho các lô
hàng nhanh. Để giúp phòng chống buôn lậu và trốn thuế, các Bên đồng ý cung cấp
thông tin khi được yêu cầu để giúp đỡ nhau thực thi pháp luật hải quan tương ứng
của mình.
6./ Chương 6 - Biện pháp vệ
sinh dịch tễ:
Khi xây dựng các quy định về
vệ sinh dịch tễ, các Bên đã nêu mối quan tâm chung trong việc bảo đảm sự minh bạch,
quy tắc không phân biệt đối xử dựa trên khoa học, và tái khẳng định quyền của
Các nước TPP đối với việc bảo vệ con người và động thực vật ở nước mình. Hiệp định
TPP được xây dựng dựa trên các quy tắc vệ sinh dịch tễ của WTO để xác định và
quản lý rủi ro sao cho không có hạn chế thương mại quá mức cần thiết.
Các Bên đồng ý cho phép
công chúng đóng góp ý kiến về các biện pháp vệ sinh dịch tễ được đề xuất trong
quá trình ra quyết định của mình, và để đảm bảo thương nhân hiểu các quy tắc mà
họ cần tuân thủ.
Các Bên đồng ý rằng các chương
trình nhập khẩu được xây dựng dựa trên các rủi ro liên quan đến nhập khẩu, và
việc kiểm tra ở khâu nhập khẩu được thực hiện mà không có những trì hoãn không
cần thiết.
Các Bên cũng nhất trí rằng
các biện pháp khẩn cấp cần thiết để bảo vệ con người, động vật có thể được áp dụng
với điều kiện nước thực hiện phải thông báo cho tất cả các Bên còn lại. Một nước
khi áp dụng một biện pháp khẩn cấp sẽ rà soát cơ sở khoa học của biện pháp đó
trong vòng sáu tháng và công bố kết quả cho các Bên khác theo yêu cầu.
Ngoài ra, các Bên cam kết cải
thiện việc trao đổi thông tin liên quan đến các yêu cầu về tương đương hoặc khu
vực hóa các yêu cầu và thúc đẩy kiểm toán dựa trên các hệ thống để đánh giá
tính hiệu quả về kiểm soát quy định của nước xuất khẩu. Trong nỗ lực nhanh
chóng giải quyết các vấn đề vệ sinh dịch tễ phát sinh, Các nước TPP đã nhất trí
thiết lập một cơ chế tham vấn giữa các chính phủ.
7./ Chương 7 - Rào cản kỹ
thuật đối với thương mại:
Trong quá trình xây dựng
các quy định về Rào cản kỹ thuật đối với thương mạ, các Bên đã nhất trí về
nguyên tắc minh bạch và không phân biệt đối xử trong việc phát triển các tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, và quy trình đánh giá sự phù hợp, đồng thời vẫn cho
phép các Bên theo đuổi những mục tiêu chính đáng của mình.
Các Bên đồng ý hợp tác để đảm
bảo rằng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật này không tạo ra các rào cản không
cần thiết đối với thương mại. Nhằm giảm chi phí cho các doanh nghiệp TPP, đặc
biệt là các doanh nghiệp nhỏ, các Bên đồng ý với các quy định tạo thuận lợi cho
việc chấp nhận các kết quả của quy trình đánh giá sự phù hợp từ các tổ chức
đánh giá sự phù hợp của các nước TPP khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các công
ty tiếp cận các thị trường TPP.
Theo Hiệp định TPP, các Bên
phải cho phép công chúng đóng góp ý kiến về các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật,
và các thủ tục đánh giá sự phù hợp được đề xuất để thông báo cho các quy trình
quản lý của mình và đảm bảo thương nhân hiểu các quy định mà họ sẽ cần phải
tuân thủ.
Các Bên cũng sẽ đảm bảo một
khoảng thời gian hợp lý giữa thời điểm công bố các quy chuẩn kỹ thuật và quy
trình đánh giá sự phù hợp và thời điểm có hiệu lực của các quy chuẩn, quy trình
này để doanh nghiệp có đủ thời gian để đáp ứng những yêu cầu mới.
Ngoài ra, Hiệp định TPP có
đính kèm các phụ lục liên quan đến quy định về những ngành cụ thể để thúc đẩy
cách tiếp cận pháp lý chung trên toàn khu vực TPP. Các ngành này gồm mỹ phẩm,
thiết bị y tế, dược phẩm, các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông, rượu
và thức uống chưng cất, công thức độc quyền cho các loại thực phẩm đóng gói sẵn
và phụ gia thực phẩm, và các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
8./ Chương 8 - Biện pháp
phòng vệ thương mại:
Chương về biện pháp phòng vệ
thúc đẩy tính minh bạch và quy trình chuẩn trong thủ tục tố tụng về phòng vệ thương
mại thông qua việc công nhận các quy trình tốt nhất mà không làm ảnh hưởng đến
quyền và nghĩa vụ các Bên trong khuôn khổ WTO.
Chương này quy định một cơ
chế tự vệ chuyển tiếp cho phép một Bên áp dụng một biện pháp tự vệ chuyển tiếp
trong một khoảng thời gian nhất định khi nhập khẩu tăng do cắt giảm thuế quan
theo Hiệp định TPP gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp trong nước.
Những biện pháp này có thể được duy trì đến hai năm và có thể gia hạn một lần
thêm một năm, nhưng phải dần dần tự do hóa nếu kéo dài hơn một năm. Các Bên áp
dụng các biện pháp phòng vệ phải tuân thủ yêu cầu về thông báo và tham vấn.
Chương này cũng đưa ra các
quy định yêu cầu một Bên áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp bồi thường theo thỏa
thuận. Các Bên chỉ được phép áp dụng một trong những biện pháp bảo vệ được Hiệp
định TPP cho phép đối với cùng một sản phẩm tại một thời điểm. Các Bên không được
áp dụng một biện pháp tự vệ chuyển tiếp đối với bất kỳ sản phẩm nào nhập khẩu
theo hạn ngạch thuế quan TPP, và có thể loại trừ các sản phẩm TPP ra khỏi một
biện pháp phòng vệ trong khuôn khổ WTO nếu các sản phẩm nhập khẩu đó không phải
là nguyên nhân gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc có nguy cơ gây thiệt hại
nghiêm trọng.
9./ Chương 9 - Đầu tư:
Đối với việc thiết lập các
quy tắc trong lĩnh vực đầu tư, các nước tham gia hiệp định TPP phải ban hành
các chính sách đầu tư và các biện pháp bảo hộ trên cơ sở không phân biệt đối xử,
đảm bảo nguyên tắc cơ bản trong việc bảo vệ pháp luật. Bên cạnh đó, các nước
thành viên cũng phải bảo đảm các chính phủ thành viên sẽ đạt được các mục tiêu
chính sách công theo đúng qui định.
Hiệp định TPP quy định các
nguyên tắc bảo hộ đầu tư cơ bản tương tự như các nguyên tắc trong các hiệp định
liên quan đến đầu tư khác, bao gồm nguyên tắc đối xử quốc gia; đối xử tối huệ
quốc; chuẩn mực ứng xử tối thiểu trong đầu tư phù hợp với các nguyên tắc luật
pháp quốc tế; nghiêm cấm các hành vi thu hồi tài sản không phục vụ cho mục đích
công, không đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định hoặc không thực hiện bồi thường;
Nghiêm cấm những yêu cầu về
thực hiện như yêu cầu về hàm lượng nội địa hay nội địa hóa công nghệ; tự do
chuyển giao nguồn vốn thực hiện đầu tư phù hợp với những điều khoản ngoại lệ
quy định trong Hiệp định TPP nhằm đảm bảo các chính phủ thành viên được phép quản
lý các dòng vốn vãng lai một cách linh hoạt thông qua các biện pháp bảo hộ tạm
thời (như các biện pháp kiểm soát vốn) nhằm hạn chế hành vi chuyển vốn đầu tư
trong trường hợp xảy ra khủng hoảng cán cân thanh toán hoặc những mối đe dọa,
suy thoái kinh tế khác, cũng như nhằm bảo vệ tính thống nhất và ổn định của hệ
thống tài chính; bảo đảm quyền tự chủ của các quốc gia thành viên trong việc bổ
nhiệm các vị trí quản lý cao cấp.
Các nước thành viên của Hiệp
định TPP phải ban hành các quy định về danh mục cấm để bảo đảm thị trường của
các quốc gia luôn công khai đối với các nhà đầu tư ngoại, trừ trường hợp nhà đầu
tư chấp nhận một điều khoản ngoại lệ (biện pháp không tương thích) nào đó được
quy định tại một trong hai phụ lục cụ thể của từng quốc gia thành viên như sau:
a./ Các biện pháp hiện hành
quy định nước thành viên có nghĩa vụ không áp đặt thêm bất kỳ biện pháp chế tài
nào khác trong tương lai cũng như tuân thủ thỏa thuận tự do hóa trong các hoạt
động đầu tư sau này.
b./ các biện pháp và chính
sách quy định nước thành viên có đầy đủ quyền tự quyết trong các hoạt động
trong tương lai.
Chuơng này cũng đưa ra những
quy định mang tính trung lập và minh bạch về vấn đề trọng tài quốc tế để giải
quyết các tranh chấp liên quan đến đầu tư cùng với các biện pháp bảo hộ nghiêm
ngặt nhằm ngăn chặn các tuyên bố vi phạm và không phù hợp với quy định cũng như
nhằm bảo đảm quyền của mỗi chính phủ thành viên trong việc ban hành các quy định
phục vụ cho những lợi ích công cộng, bao gồm quy định về y tế, an toàn và bảo vệ
môi trường.
Các biện pháp bảo hộ về quy
trình, thủ tục bao gồm quy định về sự minh bạch trong thủ tục khởi kiện, tham
gia tòa án với tư cách bạn của tòa án (amicus curiae), tham gia toà án với tư
cách không phải là Bên liên quan tranh chấp; xúc tiến quá trình xem xét các
tuyên bố sai trái và thanh toán phí luật sư; minh bạch trong quy định về thủ tục
xem xét một quyết định tạm thời; quy định ràng buộc để các nước TPP đạt được sự
thông hiểu lẫn nhau; quy định thời hạn nộp đơn lên toà; và các nguyên tắc không
cho phép Bên nguyên đơn tham gia một vụ kiện tương tự và diễn ra song song với
vụ kiện mà Bên đó đang tham gia.
10./ Chương 10 - Thương mại
dịch vụ xuyên biên giới:
Xét thấy tầm quan trọng
ngày càng tăng của các dịch vụ trong quan hệ thương mại giữa các nước TPP, 12
quốc gia thành viên sẽ cùng nhau cam kết thực hiện thương mại tự do trong lĩnh
vực này.
Hiệp định TPP bao gồm những
nghĩa vụ cốt lõi đã được thỏa thuận trong Hiệp định WTO và các hiệp định thương
mại khác như nghĩa vụ đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc; gia nhập thị trường,
trong đó quy định các quốc gia không phải thành viên của TPP có thể áp đặt những
biện pháp chế tài việc cung cấp dịch vụ (chẳng hạn như giới hạn số lượng nhà
cung cấp hoặc số lượng giao dịch) hoặc có thể yêu cầu quy định một hình thái tư
cách pháp nhân đặc trưng hoặc liên doanh; và sự hiện diện của các yêu tố quốc nội,
trong đó quy định không một quốc gia nào có thể yêu cầu nhà cung cấp từ quốc
gia khác thành lập văn phòng hay chi nhánh, hoặc phải là đối tượng cư trú trong
lãnh thổ của mỗi quốc gia để cung cấp dịch vụ.
Các nước thành viên của TPP
có nghĩa vụ ban hành các danh mục cấm để bảo đảm thị trường của các quốc gia
luôn công khai đối với các nhà đầu tư ngoại, trừ trường hợp nhà đầu tư chấp nhận
một điều khoản ngoại lệ (biện pháp không tương thích) nào đó được quy định tại
một trong hai phụ lục cụ thể của từng quốc gia như sau:
a./ Các biện pháp hiện hành
quy định các nước tham gia phải có nghĩa vụ không áp đặt thêm bất kỳ biện pháp
chế tài nào khác trong tương lai cũng như tuân thủ thỏa thuận tự do hóa trong
các hoạt động sau nà.
b./ Các lĩnh vực và chính
sách quy định quốc gia thành viên có đầy đủ quyền tự quyết trong các hoạt động
trong tương lai.
Các nước thành viên của TPP
cũng sẽ thống nhất thực hiện các biện pháp áp dụng chung trên cơ sở đảm bảo
tính hợp lý, khách quan và không thiên vị; chấp nhận các điều kiện về tính minh
bạch trong triển khai các quy định liên quan đến các dịch vụ mới.
Các quyền lợi nêu ra trong
chương này có thể sẽ bị từ chối nhằm bảo vệ cho các công ty và nhà cung cấp dịch
vụ do những Bên không phải là thành viên của TPP sở hữu có một vài giao dịch mà
các nước TPP ngăn cấm thực hiện.
Các nước TPP nhất trí thừa
nhận việc chuyển vốn liên quan đến việc cung cấp dịch vụ.
Ngoài ra, chương này bao gồm
phần phụ lục về các dịch vụ chuyên môn nhằm khuyến khích hoạt động hợp tác về
công nhận qua việc cấp giấy phép và các vấn đề chính sách khác cũng như phụ lục
về dịch vụ chuyển phát nhanh.
11./ Chương 11 - Dịch vụ
tài chính:
- Chương dịch vụ tài chính của
Hiệp định TPP cung cấp nhiều cơ hội tiếp cận thị trường qua biên giới và đầu tư
quan trọng nhưng vẫn đảm bảo rằng các nước TPP vẫn có đủ năng lực điều hành thị
trường và các tổ chức tài chính cũng như thực hiện các biện pháp khẩn cấp trong
trường hợp khủng hoảng.
- Chương này bao gồm các
nghĩa vụ cốt lõi tìm thấy trong các hiệp định thương mại khác, bao gồm đối xử
quốc gia; đối xử tối huệ quốc; tiếp cận thị trường; và một vài quy định cụ thể
của chương Đầu tư bao gồm Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu.
- Chương này cũng quy định việc
cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới cho một nước TPP từ một nhà cung cấp của
một nước TPP khác mà không yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ phải thành lập cơ sở hoạt
động tại một nước khác để bán các dịch vụ của mình nhưng phải phù hợp với quy định
đăng ký hoặc ủy quyền cho các nhà cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới của
một nước trong Hiệp định TPP khác nhằm đảm bảo cho công tác điều hành và giám
sát phù hợp.
- Một nhà cung cấp dịch vụ của
một nước Hiệp định TPP có thể cung cấp một dịch vụ tài chính mới tại thị trường
của nước TPP khác nếu các công ty trong nước hoạt động tại thị trường này được
phép cung cấp dịch vụ đó. Các nước thành viên của TPP phải ban hành quy định trường
hợp ngoại lệ đối với một số quy tắc trong hai phụ lục đính kèm theo TPP phù hợp
với điều kiện của từng nước:
- a./ Các biện pháp hiện hành
quy định Bên tham gia phải có nghĩa vụ không áp đặt thêm bất kỳ biện pháp chế
tài nào khác trong tương lại cũng như tuân thủ thỏa thuận tự do hóa trong các
hoạt động sau này.
- b./ Các biện pháp và chính
sách quy định Bên tham gia có đầy đủ quyền tự quyết trong tương lai.
- Các nước TPP cũng đặt ra
các nguyên tắc công nhận chính thức tầm quan trọng của các quy trình thủ tục
pháp lý nhằm khuyến khích việc cung cấp các dịch vụ bảo hiểm của các nhà cung cấp
được cấp phép và các quy trình để đạt được mục tiêu này.
- Ngoài ra, Hiệp định TPP
cũng đề cập đến các cam kết cụ thể về quản lý danh mục đầu tư, các dịch vụ thẻ
thanh toán điện tử và chuyển giao thông tin để phục vụ mục đích xử lý dữ liệu.
- Chương về các dịch vụ tài
chính cũng qui định cách thức giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến
một số điều khoản thông qua quy định trung lập và minh bạch về trọng tài đầu tư.
- Chương này cũng đưa ra những
điều khoản cụ thể về các tranh chấp trong đầu tư liên quan đến tiêu chuẩn đối xử
tối thiểu và các điều khoản yêu cầu các trọng tài phải có chuyên môn về các dịch
vụ tài chính và các điều khoản về cơ chế đối xử đặc biệt giữa các quốc gia
thành viên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các quy định ngoại lệ
mà từng quốc gia thành viên cần xem xét một cách thận trọng và các quy định ngoại
lệ được đề cập trong chương này trong trường hợp phát sinh tranh chấp trong đầu
tư.
- Cuối cùng, chương này cũng
đề cập đến các trường hợp ngoại lệ trong việc bảo hộ quyền tự chủ của các nhà
quản lý tài chính của các nước TPP, trong đó họ sẽ được quyền chủ động thực hiện
các biện pháp củng cố tính ổn định tài chính và tính thống nhất của hệ thống
tài chính của mình, bao gồm những quy định ngoại lệ mà các quốc gia thành viên
xem xét một cách thận trọng và những quy định ngoại lệ về các biện pháp không
phân biệt đối xử trong quá trình thiết lập và thực thi các chính sách tiền tệ
hay các chính sách khác.
12./ Chương 12 - Nhập cảnh
tạm thời cho doanh nhân:
Chương về nhập cảnh tạm thời
cho doanh nhân khuyến khích các cơ quan có thẩm quyền của các nước TPP cung cấp
thông tin về hồ sơ đăng ký nhập cảnh tạm thời nhằm đảm bảo phí đăng ký ở mức hợp
lý và đưa ra các quyết định về hồ sơ đăng ký và thông báo người nộp đơn đăng ký
về kết quả giải quyết hồ sơ trong thời gian sớm nhất có thể.
Các nước TPP thỏa thuận với
nhau để đảm bảo thông tin liên quan đến các điều kiện nhập cảnh tạm thời luôn được
công khai đến với toàn dân, trong đó bao gồm việc công bố thông tin sớm nhất
hay nếu được thì có thể công bố qua mạng, song song đó phải cung cấp các tài liệu
rõ ràng, dễ hiểu.
Các nước TPP thỏa thuận tiếp
tục hợp tác về các vấn đề nhập cảnh tạm thời như hợp tác trong quá trình giải
quyết hồ sơ xin thị thực.
Hầu hết tất cả các nước TPP
đã tham gia cam kết cho phép nhập cảnh của các doanh nhân của nước thành viên
khác tùy thuộc vào các phụ lục của riêng từng nước.
13./ Chương 13 - Viễn
thông:
Các nước TPP đều bày tỏ
quan tâm đến việc đảm bảo tính hiệu quả và tin cậy của mạng viễn thông của
mình. Các mạng này đóng vai trò quan trọng đối với các công ty cung cấp dịch vụ
bất kể quy mô hoạt động lớn hay nhỏ. Các nhà cung cấp dịch vụ di động cũng thuộc
đối tượng điều chỉnh của các quy tắc truy cập mạng cạnh tranh hơn được thỏa thuận
trong Hiệp định TPP.
Các nước TPP cam kết đảm bảo
các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn ở mỗi quốc gia sẽ cung cấp các dịch vụ
kết nối, thuê dây dẫn truyền của nhau, cho thuê chỗ đặt máy chủ và được phép sử
dụng cột phát tín hiệu và các trang thiết bị khác theo đúng với các điều khoản
liên quan và đúng thời điểm.
Các quốc gia cũng cam kết
là khi được cấp giấy phép thì mỗi quốc gia sẽ đảm bảo các quy trình và quy định
pháp lý của mình không phân biệt đối xử với bất kỳ công nghệ cụ thể nào.
Bên cạnh, họ cũng cam kết
thực hiện các quy trình phân bổ và sử dụng các nguồn tài nguyên viễn thông độc
đáo của riêng mình, bao gồm tần số, số hiệu và quyền ưu tiên trên cơ sở khách
quan, đúng lúc, minh bạch và không phân biệt đối xử.
Các nước TPP công nhận tầm
quan trọng của các tác nhân thị trường và các thỏa thuận thương mại trong lĩnh
vực viễn thông. Các quốc gia cũng thỏa
thuận sẽ hành động thao các bước nhằm khuyến khích cạnh tranh trong các dịch vụ
chuyển vùng di động quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các giải
pháp thay thế cho dịch vụ chuyển vùng quốc tế.
Các nước TPP cũng thống nhất
rằng trong trường hợp một nước thành viên quy định mức thuế suất áp dụng cho việc
bán buôn các dịch vụ chuyển vùng di động quốc tế, nước đó sẽ cho phép các nhà
khai thác dịch vụ của các nước TPP không quy định mức thuế suất này có được cơ
hội nhận được ưu đãi khi áp dụng mức thuế thấp hơn.
14./ Chương 14 - Thương mại
điện tử:
Trong chương về thương mại
điện tử, các nước TPP cam kết bảo đảm luồng thông tin và dữ liệu mang tính toàn
cầu được lưu hành một cách tự do giúp phát triển nền kinh tế Internet và kỹ thuật
số đáp ứng các mục tiêu chính sách công liên quan như chính sách bảo mật thông
tin cá nhân.
12 nước TPP cũng thống nhất
không ràng buộc các công ty của các nước TPP phải xây dựng các trung tâm dữ liệu
như một điều kiện cần thiết để hoạt động trong thị trường của nhau cũng như
không yêu cầu phải có mã nguồn phần mềm khi cần chuyển giao hay truy cập.
Chương này cũng nghiêm cấm
việc áp đặt các loại thuế xuất nhập khẩu đối với việc truyền tin điện tử và
ngăn không cho các nước TPP ưu đãi cho các nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp sản
phẩm truyền tin điện tử nội địa bằng cách áp dụng các biện pháp mang tính phân
biệt đối xử hay khóa chặn hoàn toàn việc truyền tin.
Nhằm mục đích bảo vệ người tiêu
dùng, các nước TPP thống nhất thông qua và duy trì các điều luật liên quan đến
các hoạt động giả mạo, gian dối trên mạng cũng như đảm bảo các biện pháp bảo vệ
tính riêng tư và các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng khác có thể được áp dụng
vào thị trường của các nước TPP.
Các nước TPP cũng phải đưa
ra các biện pháp nhằm chấm dứt các tin nhắn rác. Nhằm mục đích tạo điều kiện
thuận lợi cho thương mại điện tử, chương này bao gồm các điều khoản khuyến
khích các nước TPP phát triển hình thức giao dịch thương mại giữa các doanh
nghiệp và chính phủ như các hình thức hải quan điện tử cũng như đưa ra các quy
định về chứng thực và chữ ký điện tử trong các giao dịch thương mại. Một số
nghĩa vụ trong chương này phải phù hợp với các biện pháp không tương thích của từng
nước thành viên TPP.
Tất cả 12 nước TPP đồng ý
phối hợp cùng nhau để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tận dụng lợi
thế thương mại điện tử. Chương này cũng khuyến khích sự hợp tác về các quy chế
liên quan đến bảo mật thông tin cá nhân, bảo vệ người tiêu dùng tham gia thương
mại qua mạng, các mối đe dọa đến an toàn thông tin và năng lực bảo vệ an toàn
thông tin.
15./ Chương 15 - Mua sắm
công:
Các nước TPP chia sẽ lợi
ích chung trong việc tiếp cận thị trường mua sắm công của nhau thông qua những
qui định minh bạch, có thể dự đoán, và không phân biệt đối xử.
Trong chương về mua sắm
công, các nước TPP sẽ cam kết những nguyên tắc quan trọng về đối xử và không
phân biệt đối xử giữa các quốc gia. Các nước TPP cũng thống nhất việc công bố kịp
thời các thông tin liên quan nhằm giúp cho các nhà cung cấp có đủ thời gian nhận
hồ sơ mời thầu và tham gia dự thầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ dự thầu một cách
công bằng và không thiên vị, đồng thời bảo mật thông tin trong đó.
Ngoài ra, các nước TPP thỏa
thuận sử dụng thông số kỹ thuật một cách công bằng và khách quan, chỉ lựa chọn
nhà thầu (ký hợp đồng) dựa trên các tiêu chí đánh giá được ghi trong các thông
báo và hồ sơ mời thầu, và xây dựng các thủ tục pháp lý phù hợp để chất vấn hoặc
xem xét những kiến nghị về việc lựa chọn nhà thầu. Mỗi nước TPP đồng ý đưa ra
danh sách các tổ chức và hoạt động được
điều chỉnh trong chương này (trong phụ lục đính kèm).
16./ Chương 16 - Chính sách
cạnh tranh:
Các nước TPP có một mối
quan tâm chung trong việc đảm bảo một khuôn khổ cạnh tranh công bằng trong khu
vực thông qua các qui định đòi hỏi các nước TPP phải duy trì các chế độ pháp lý
ngăn cấm hành vi kinh doanh phi cạnh tranh cũng như các hoạt động thương mại
gian lận và lừa đảo làm tổn hại đến người tiêu dùng.
Các nước TPP đồng ý áp dụng
hoặc duy trì luật cạnh tranh nhằm ngăn cấm hành vi kinh doanh phi cạnh tranh và
áp dụng luật này vào tất cả các hoạt động thương mại trong lãnh thổ của mình. Để
đảm bảo các luật này được thực thi một cách hiệu quả, các nước TPP đồng ý thiết
lập hoặc duy trì các cơ quan chịu trách nhiệm thi hành luật cạnh tranh quốc
gia, áp dụng hoặc duy trì pháp luật hoặc qui định chống lại các hoạt động thương
mại gian lận và lừa đảo làm tổn hại đến khách hàng. Các nước TPP cũng đồng ý hợp
tác về những vấn đề vì lợi ích đôi bên liên quan đến các hoạt động cạnh tranh nếu
phù hợp.
Ngoài ra, các nước TPP đồng
ý hợp tác trong chính sách cạnh tranh và thi hành luật cạnh tranh thông qua việc
thông báo, tư vấn và trao đổi thông tin. Chương này không thuộc các điều khoản
giải quyết tranh chấp của TPP nhưng các nước TPP có thể tham khảo những vấn đề
mình quan tâm liên quan đến chương này.
17./ Chương 17 - Các doanh
nghiệp nhà nước và các đơn vị độc quyền:
Tất cả các nước TPP đều có
doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò cung cấp dịch vụ công và các hoạt động khác
nhưng Các nước TPP cũng nhận ra lợi ích của việc thống nhất một khung pháp lý về
các doanh nghiệp nhà nước.
Chương này điều chỉnh những
doanh nghiệp nhà nước lớn tham gia vào các hoạt động thương mại. Các bên cùng đảm
bảo rằng các doanh nghiệp nhà nước của mình sẽ thực hiện việc mua bán trên cơ sở
các xem xét thương mại trừ khi việc làm đó không nhất quán với bất kỳ một nhiệm
vụ nào mà một doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động theo đó.
Các nước TPP còn thỏa thuận
sẽ đảm bảo các doanh nghiệp nhà nước hoặc những đơn vị độc quyền của mình không
phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp, hàng hóa và dịch vụ của các nước còn
lại.
Các nước TPP đồng ý trao
cho tòa án quyền tài phán đối với các hoạt động thương mại của các doanh nghiệp
nhà nước nước ngoài trên lãnh thổ của mình, và bảo đảm rằng các cơ quan hành
chính quản lý của các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân cũng làm như
vậy một cách công bằng.
Các Nước TPP đồng ý sẽ
không tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với lợi ích của các nước TPP khác khi
cung cấp hỗ trợ phi thương mại cho các doanh nghiệp nhà nước, hay làm tổn hại đến
ngành công nghiệp trong nước của thành viên khác thông qua việc cung cấp các hỗ
trợ phi thương mại cho doanh nghiệp nhà nước sản xuất và bán hàng hóa trên lãnh
thổ nước đó.
Nước TPP đồng ý chia sẻ
danh sách các doanh nghiệp nhà nước của mình với các nước TPP khác và khi được
yêu cầu sẽ cung cấp các thông tin bổ sung về mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của chính
phủ và những hỗ trợ phi thương mại cung cấp cho các doanh nghiệp nhà nước.
Chương này cũng quy định về
các trường hợp ngoại lệ, ví dụ trong trường hợp khẩn cấp quốc gia hoặc toàn cầu,
cũng như những ngoại lệ cụ thể của từng nước được nêu cụ theể trong các phụ lục
kèm theo.
18./ Chương 18 - Sở hữu trí
tuệ:
Sở hữu trí tuệ trong TPP
bao gồm bằng sáng chế, thương hiệu, bản quyền, thiết kế công nghiệp, chỉ dẫn địa
lý, bí mật thương mại, các hình thức sở hữu trí tuệ khác, và thực thi quyền sở
hữu trí tuệ cũng như các lĩnh vực mà các nước TPP đồng ý hợp tác.
Chương này sẽ giúp cho các
doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm, đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ trong những thị trường mới vốn đặc biệt quan trọng cho các doanh nghiệp
nhỏ.
Chương này cũng thiết lập
những chuẩn mực cho các bằng sáng chế dựa trên Hiệp định WTO về các khía cạnh
liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của (TRIPS Agreement) và những thông lệ quốc tế tốt
nhất.
Về thương hiệu, nó giúp bảo
vệ các nhãn hiệu và những biểu tượng đặc thù khác mà các doanh nghiệp và cá
nhân sử dụng cho hàng hóa của mình trên thị trường.
Chương này đòi hỏi sự minh
bạch nhất định và các quy trình bảo vệ phù hợp liên quan đến việc bảo vệ những
chỉ dẫn địa lý mới kể cả những chỉ dẫn địa lý được công nhận hoặc được bảo vệ
thông qua các điều ước quốc tế. Việc bảo vệ này bao gồm cả việc phân định rõ mối
quan hệ giữa thương hiệu và chỉ dẫn địa lý, cũng như việc bảo vệ việc sử dụng
những thuật ngữ thường dùng.
Ngoài ra, chương này còn có
những điều khoản liên quan đến dược phẩm thúc đẩy sự phát triển các loại thuốc
cứu sinh mới cũng như việc phổ biến các thuốc gốc (generic medicines), có tính
đến thời gian từng thành viên cần để đáp ứng được các tiêu chuẩn này.
Chương này có cả những cam
kết liên quan đến việc bảo vệ kết quả thử nghiệm và những dữ liệu khác đã được
đệ trình để xin cấp phép lưu hành một sản phẩm dược hoặc hóa chất nông nghiệp mới.
Chương này còn tái khẳng định
cam kết của các bên về Tuyên bố của WTO năm 2001 về Hiệp Ước TRIPS và Sức Khỏe
cộng đồng, và xác nhận một cách cụ thể rằng các bên không bị ngăn cản sử dụng
các biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bao gồm cả trong trường hợp có những đại
dịch như HIV/AIDS.
Về bản quyền, chương sở hữu
trí tuệ xây dựng những cam kết liên quan đến việc bảo hộ đối với các tác phẩm
và công trình như bài hát, phim, sách, và phần mềm, và bao gồm những điều khoản
cân đối và hiệu quả về các biện pháp bảo vệ công nghệ và thông tin quản lý bản
quyền.
Chương này còn bao gồm một
nghĩa vụ cho tất cả các nước TPP tiếp tục cố gắng đạt được sự cân bằng trong hệ
thống bản quyền thông qua những ngoại lệ
và hạn chế, bao gồm cả những nội dung trong môi trường số, và các biện pháp
khác.
Chương này yêu cầu các
thành viên phải thông qua hoặc duy trì một khuôn khổ về vùng an toàn cho các
nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP). Các nghĩa vụ này không cho phép các nước
TPP tạo ra các vùng an toàn ngẫu nhiên để giám sát hệ thống của các IPS tìm kiếm
nội dung vi phạm.
Cuối cùng, các nước TPP đồng
ý cung cấp các hệ thống chế tài mạnh, bao gồm cả những quy trình thủ tục dân sự,
các biện pháp tạm thời, các biện phảp quản lý biên giới, các thủ tục và chế tài
hình sự đối với tội giả mạo thương hiệu mang tính thương mại và vi phạm bản quyền
hoặc các quyền liên quan.
Chương này yêu cầu các nước
TPP cung cấp các công cụ hợp pháp để ngăn ngừa việc lạm dụng các bí mật thương
mại, xây dựng các thủ tục và xử phạt hình sự đối với tội phạm trộm cắp bí mật
thương mại, bao gồm cả trộm cắp qua mạng hoặc quay phim.
19./ Chương 19 - Lao động:
Tất cả các nước trong hiệp
hội TPP đều là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và công nhận tầm
quan trọng của việc thúc đẩy các quyền lao động được quốc tế công nhận. Trong
TPP, các thành viên đồng ý thông qua và duy trì trong luật và thông lệ của mình
các quyền cơ bản của người lao động như được thừa nhận trong Tuyên bố 1998 của
ILO, đó là quyền tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể; xóa bỏ lao động
cưỡng bức; xóa bỏ lao động trẻ em và cấm các hình thức lao động trẻ em tồi tệ
nhất; và loại bỏ sự phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp.
Các thành viên cũng đồng ý
có luật quy định mức lương tối thiểu, số giờ làm việc, an toàn và sức khỏe nghề
nghiệp. Những cam kết này áp dụng cả với các khu chế xuất.
Mười hai nước TPP đồng ý
không miễn trừ hoặc giảm hiệu lực của pháp luật quy định việc thực thi các quyền
cơ bản của người lao động để thu hút thương mại hoặc đầu tư, và thực thi một
cách hiệu quả pháp luật liên quan đến lao động một cách bền vững hoặc đều đặn
có thể có ảnh hưởng tới thương mại hoặc đầu tư giữa các nước TPP.
Bên cạnh các cam kết của
các nước TPP nhằm xóa bỏ lao động cưỡng bức trong nước mình, chương Lao động
còn bao gồm những cam kết không khuyến khích việc nhập khẩu hàng hóa được sản
xuất bằng lao động cưỡng bức hoặc lao động trẻ em, hoặc sử dụng nguyên liệu đầu
vào được sản xuất ra bằng lao động cưỡng bức, bất kể nước xuất xứ có phải là nước
TPP hay không. Mỗi nước TPP đều cam kết bảo đảm khả năng tiếp cận với hệ thống
thủ tục hành chính và tư pháp công bằng, không thiên vị và minh bạch và sẽ cung
cấp các biện pháp khắc phục hiệu quả những vi phạm luật lao động của mình.
Các thành viên cũng đồng ý
cho phép sự tham gia của công chúng vào việc thực thi chương Lao động, bao gồm
cả việc xây dựng cơ chế tiếp nhận ý kiến đóng góp của công chúng.
Các cam kết tại chương này
phải tuân thủ các thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định tại chương Giải
quyết tranh chấp. Để thúc đẩy việc giải quyết nhanh các vấn đề về lao động giữa
các nước TPP, chương Lao động còn xây dựng cơ chế đối thoại mà các thành viên
có thể lựa chọn áp dụng để giải quyết mọi vấn đề về lao động giữa các thành
viên.
Cơ chế đối thoại này cho
phép xem xét nhanh các vấn đề và cho phép các thành viên cùng nhất trí với chương
trình hành động để xử lý vấn đề. Chương Lao động tạo ra một cơ chế hợp tác về
các vấn đề về lao động, bao gồm cả các cơ hội để các nhà đầu tư xác định phạm
vi hợp tác và tham gia vào các hoạt động hợp tác nều thấy phù hợp và cùng thống
nhất.
20./ Chương 20 - Môi trường:
Với tư cách là các quốc gia
chiếm một phần đáng kể về dân số, động vật hoang dã, thực vật và sinh vật biển
trên thế giới, các nước TPP cùng ký một bản cam kết bền vững về việc bảo vệ và
bảo tồn môi trường, bao gồm hợp tác trong việc giải quyết các thách thức về môi
trường như ô nhiễm môi trường, buôn bán trái phép động vật hoang dã, khai thác
gỗ bất hợp pháp và trong việc bảo vệ môi trường biển.
12 nước TPP nhất trí thực
thi có hiệu quả pháp luật về môi trường của nước mình và không đi ngược lại với
hệ thống pháp luật về môi trường để khuyến khích thương mại và đầu tư.
Các nước TPP cũng đồng ý thực
hiện nghĩa vụ của mình theo Công ước về Buôn bán quốc tế các loài hoang dã động
thực vật (CITES), có biện pháp đối phó và hợp tác ngăn chặn buôn bán động trái
phép vật hoang dã.
Ngoài ra, Các nước TPP thống
nhất đẩy mạnh quản lý rừng bền vững và để bảo vệ và bảo tồn động thực vật hoang
dã và thực vật mà các quốc gia đã xác định là đang gặp nguy hiểm trong lãnh thổ
của mình, kể cả các biện pháp để bảo tồn tính toàn vẹn sinh thái của khu vực tự
nhiên được bảo vệ đặc biệt, chẳng hạn như vùng đầm lầy.
Với nỗ lực để bảo vệ đại dương
chung của mình, các nước TPP thống nhất về quản lý bền vững nghề cá, thúc đẩy bảo
tồn các loài sinh vật biển quan trọng, bao gồm loài cá mập, để chống lại việc
đánh bắt cá trái phép và để ngăn chặn một số trợ cấp nghề cá có tác động nguy hại
nhất, tiếp tay cho các hoạt động đánh bắt cá trái phép, không được báo cáo và
không được quy định, tạo ra ảnh hưởng tiêu cực dẫn đến nguồn cá bị khai thác
quá mức dẫn đến cạn kiệt.
Các nước TPP cũng đồng ý
nâng cao tính minh bạch liên quan đến các chương trình trợ cấp nêu trên và nỗ lực
hết mình để không đưa ra các khoản trợ cấp mới cho việc khai thác quá mức hoặc
quá tải nguồn cá.
Các nước TPP cũng thỏa thuận
bảo vệ môi trường biển từ ô nhiễm tàu thủy và bảo vệ tầng ô zôn khỏi các chất
phá hủy ozone. Các nước TPP xác nhận lại
cam kết của mình trong việc thực hiện các Hiệp định đa phương về môi trường
(MEAs) mà mình gia nhập. Các nước TPP
cam kết minh bạch trong việc đưa ra quyết định, thực hiện và thi hành các quyết
định về môi trường.
Bên cạnh đó, Các nước TPP
thỏa thuận tạo cơ hội cho cộng đồng đóng góp vào việc thực hiện chương về Môi
trường, kể cả thông qua việc đệ trình và các buổi họp công khai của Ủy ban Môi
trường để giám sát việc thực hiện của nội dung chương này. Chương này cũng phải
tuân thủ quy trình giải quyết tranh chấp trong chương Giải quyết tranh chấp.
Các nước TPP cũng nhất trí
khuyến khích các sáng kiến môi trường tự nguyện, chẳng hạn như các chương trình
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Cuối cùng, Các nước TPP cam kết hợp tác giải
quyết các vấn đề quan tâm chung , kể cả trong các lĩnh vực bảo tồn và sử dụng bền
vững đa dạng sinh học, và quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế ít phát thải và
chóng phục hồi.
21./ Chương 21 - Nâng cao
năng lực và hợp tác:
Các nền kinh tế của 12 nước
tham gia TPP rất đa dạng. Tất cả Các nước TPP công nhận rằng các nước TPP kém
phát triển hơn có thể phải đối mặt với thách thức trong việc thực hiện Hiệp định
và trong việc tận dụng các cơ hội mà Hiệp định tạo ra. Đề giải quyết các thách
thức trên, chương về Nâng cao năng lực và hợp tác thiết lập một Ủy ban Nâng cao
năng lực và hợp tác nhằm xác định và xem xét các khu vực có tiềm năng cho những nỗ lực hợp tác và nâng
cao năng lực.
Hoạt động của Các nước TPP
là trên cơ sở đồng thuận và tùy thuộc vào nguồn tài nguyên sẵn có. Ủy ban này sẽ
tạo thuận lợi cho việc trao đổi thông tin để hỗ trợ theo yêu cầu liên quan tới
nâng cao năng lực và hợp tác.
22./ Chương 22 - Tạo thuận
lợi trong kinh doanh và năng lực cạnh tranh:
Tạo thuận lợi trong kinh doanh
và năng lực cạnh tranh nhằm giúp cho TPP đạt được tiềm năng của mình để cải thiện
khả năng cạnh tranh của các nước tham gia và toàn bộ khu vực châu Á – Thái Bình
Dương.
Chương này tạo ra cơ chế
chính thức để xem xét tác động của TPP lên khả năng cạnh tranh của Các nước TPP
thông qua các cuộc đối thoại giựa chính phủ các nước và giữa chính phủ, doanh
nghiệp, và xã hội dân sự, đặc biệt tập trung đào sâu chuỗi cung ứng khu vực,
đánh giá tiến độ, tận dụng cơ hội mới và giải quyết tất cả thách thức có thể nảy
sinh một khi TPP có hiệu lực. Cơ chế này bao gồm cả Ủy ban Tạo thuận lợi kinh
doanh và năng lực cạnh tranh có nhiệm vụ gặp gỡ thường xuyên để xem xét tác động
của TPP lên khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc gia và hội nhập kinh tế
khu vực. Ủy ban sẽ xem xét lời khuyên và khuyến nghị từ các nhà đầu tư của các
nước về cách thức TPP có thể tiếp tục tăng cường khả năng cạnh tranh, bao gồm
tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vi mô, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong
chuỗi cung ứng khu vực.
Chương này cũng thiết lập một
khuôn khổ cơ bản cho Ủy ban để đánh giá hiệu suất của chuỗi cung ứng theo Hiệp
định này, bao gồm cách để thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp các nước và
chuyên gia .
23./ Chương 23 - Phát triển:
Các nước TPP tìm cách đảm bảo
rằng TPP sẽ là một mô hình cao cấp cho thương mại và hội nhập kinh tế, và đặc
biệt để đảm bảo rằng tất cả các nước TPP có thể có được những lợi ích đầy đủ của
TPP hoàn toàn có thể thực hiện các cam kết của mình và trở nên phồn thịnh hơn với
thị trường mạnh mẽ. Chương Phát triển bao gồm ba lĩnh vực cụ thể được xem xét
cho công việc hợp tác một khi TPP có hiệu lực đối với mỗi nước:
(1) tăng trưởng kinh tế
trên diện rộng, bao gồm phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và sự phát triển
của các doanh nghiệp nhỏ.
(2) phụ nữ và việc tăng trưởng
kinh tế, bao gồm cả việc giúp phụ nữ nâng cao năng lực và kỹ năng, tăng cường
tiếp cận của phụ nữ với các thị trường, đạt được công nghệ và tài chính, thiết
lập mạng lưới lãnh đạo nữ, và xác định các thông lệ tốt nhất trong sự linh hoạt
tại nơi làm việc.
(3) giáo dục, khoa học và
công nghệ, nghiên cứu và đổi mới. Chương này thiết lập một Ủy ban Phát triển
TPPcó nhiệm vụ họp thường xuyên nhằm thúc đẩy việc hợp tác tự nguyện trong các
lĩnh vực này và các cơ hội mới.
24./ Chương 24 - Doanh nghiệp
vừa và nhỏ:
Các nước TPP có mối quan
tâm chung tới việc thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong
thương mại nhằm đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa chia sẻ những lợi ích
của TPP. Cùng với các cam kết trong các chương khác của TPP về tiếp cận thị trường,
giảm công việc giấy tờ, truy cập Internet, thuận lợi thương mại, chuyển phát
nhanh, v.v,…,
Nội dung chương về các
Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm các cam kết của mỗi nước TPP để tạo ra một
trang web thân thiện với người dùng, nhằm vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa để
cung cấp thông tin TPP có thể dễ dàng truy cập và cách mà các công ty nhỏ có thể
tận dụng nó, bao gồm mô tả các quy định của TPP có liên quan đến doanh nghiệp
nhỏ và vừa; các quy định và thủ tục liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; quy định
đầu tư nước ngoài; thủ tục đăng ký kinh doanh; quy định việc làm; và thông tin
thuế.
Ngoài ra, chương này sẽ thiết
lập một Ủy ban Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức này sẽ gặp gỡ thường xuyên để
xem xét khả năng phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa của TPP, xem xét cách để nâng
cao hơn nữa lợi ích của nó, và giám sát việc hoạt động nâng cao năng lực và hợp
tác để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua tư vấn xuất khẩu, hỗ trợ, và
các chương trình đào tạo cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; chia sẻ thông tin;
tài trợ thương mại và các hoạt động khác.
25./ Chương 25 - Sự đồng nhất
về quy định:
Chương sự đồng nhất về quy
định sẽ giúp đảm bảo một môi trường pháp lý mở, công bằng, và có thể dự đoán
cho các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường TPP bằng cách khuyến khích sự
minh bạch, công bằng, và phối hợp giữa các chính phủ để đạt được một cách tiếp
cận quản lý chặt chẽ.
Chương này nhằm mục đích tạo
điều kiện cho sự chặt chẽ của các quy định ở mỗi nước TPP bằng cách thúc đẩy cơ
chế tham vấn liên ngành có hiệu quả và sự phối hợp của các cơ quan. Nó khuyến
khích các thông lệ quản lý tốt được chấp nhận rộng rãi, chẳng hạn như đánh giá
tác động của các biện pháp quản lý đề xuất, truyền thông trong những căn cứ để
lựa chọn các giải pháp thay thế quy định lựa chọn và bản chất của các quy định
đang được ban hành.
Chương này cũng bao gồm các
điều khoản để đảm bảo các quy định được viết rõ ràng và chính xác, công chúng
có thể tiếp cận thông tin về các biện pháp quản lý mới ( trực tuyến nếu có thể),
và các biện pháp quản lý hiện tại theo định kỳ được xem xét để xác định xem liệu
các biện pháp này vẫn là phương tiện hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu mong muốn
hay không.
Ngoài ra, chương này khuyến
khích các nước TPP cung cấp một thông báo công khai hàng năm về tất cả các biện
pháp quản lý dự kiến sẽ áp dụng. Hướng tới những mục tiêu này, chương này thiết
lập một Ủy ban có nhiệm vụ cung cấp cho các nước TPP, doanh nghiệp và xã hội
dân sự cơ hội liên tục để báo cáo về việc thực hiện, chia sẻ kinh nghiệm về các
thông lệ tốt nhất, và xem xét các khu vực tiềm năng hợp tác.
Chương này, dưới bất kì
hình thức nào, không ảnh hưởng đến quyền
lợi của các nước TPP trong việc đưa ra quy định về sức khỏe cộng đồng, an toàn,
an ninh, lợi ích công cộng và các lý do khác.
26./ Chương 26 - Sự minh bạch
và công tác chống tham nhũng:
Chương về Sự minh bạch và
công tác chống tham nhũng trong TPP nhằm mục đích thúc đẩy mục tiêu chung của tất
cả các nước TPP trong việc tăng cường quản trị tốt và giải quyết những tác động
tiêu cực của việc hối lộ và tham nhũng có thể gây nên cho nền kinh tế của các nước.
Theo chương này, các nước
TPP cần phải đảm bảo rằng các luật, quy định và các quyết định hành chính áp dụng
chung đối với bất kỳ vấn đề nào quy định trong TPP được công bố công khai và, ở
mức độ có thể, các quy định có khả năng ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư giữa
các nước có thể được nhận thấy và nhận xét.
Các nước TPP thỏa thuận đảm
bảo các quyền lợi theo đúng thủ tục cho các nhà đầu tư của các nước TPP với các
tranh chấp hành chính, bao gồm việc xem xét nhanh chóng thông qua tòa án hoặc
thủ tục công bằng về tư pháp hoặc hành chính.
Các nước TPP cũng đồng ý
thông qua hoặc duy trì pháp luật về hình sự hóa các đề nghị, hoặc yêu cầu, các
lợi ích không chính đáng của công chức, cũng như các hành vi tham nhũng ảnh hưởng
đến thương mại và đầu tư quốc tế.
Các nước TPP cũng cam kết
thực thi hiệu quả các luật và các quy định của các nước về chống tham nhũng.
Ngoài ra, Các nước TPP đồng
ý nỗ lực áp dụng hoặc duy trì các quy tắc hoặc các tiêu chuẩn về ứng xử của
công chức nước mình, cũng như các biện pháp để xác định và quản lý xung đột lợi
ích nhằm tăng cường đào tạo công chức, thực hiện các bước để ngăn chặn việc tặng quà, khuyến khích việc báo cáo các hành
vi tham nhũng và quy định các biện pháp kỷ luật hoặc các biện pháp khác đối với
công chức tham gia vào các hành vi tham nhũng.
Trong một phụ lục của chương
này, các nước TPP cũng đồng ý với các điều khoản thúc đẩy tính minh bạch và
công bằng về thủ tục liên quan đến việc niêm yết và bồi hoàn cho các sản phẩm dược
phẩm hoặc các thiết bị y tế. Các cam kết trong phụ lục này không phải tuân thủ
quy trình giải quyết tranh chấp.
27./ Chương 27 - Các điều
khoản về hành chính và thể chế:
Chương về Các điều khoản
hành chính và thể chế xây dựng một khuôn khổ thể chế theo đó các nước TPP sẽ
đánh giá và hướng dẫn việc thi hành hoặc hoạt động của TPP, cụ thể là thông qua
việc thành lập Ủy ban Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương, bao gồm các Bộ trưởng
hoặc các quan chức cấp cao, để giám sát việc thực hiện hoặc hoạt động của Hiệp
định và định hướng sự phát triển tương lai của nó.
Định kỳ, Ủy ban này sẽ xem
xét các mối quan hệ kinh tế và quan hệ đối tác giữa các nước TPP để đảm bảo nội
dung Hiệp định luôn giữ mối liên kết với những thách thức thương mại và đầu tư
mà các nước TPP phải đối mặt. Mỗi Bên phải chỉ định một cơ quan đầu mối duy trì
thông tin liên lạc giữa các nước TPP, và tạo ra một cơ chế để những Bên có thời
hạn chuyển tiếp cụ thể đối với một nghĩa vụ nào đó có thể báo cáo về kế hoạch
và lộ trình thực hiện nghĩa vụ. Điều này đảm bảo các nước TPP thực hiện nghĩa vụ
một cách minh bạch hơn.
28./ Chương 28 - Giải quyết
tranh chấp:
Chương về Giải quyết tranh
chấp nhằm cho giúp đỡ các nước TPP nhanh chóng giải quyết các tranh chấp giữa họ
trong quá trình thực hiện Hiệp định TPP. Các nước TPP sẽ thực hiện mọi nỗ lực để
giải quyết tranh chấp thông qua hợp tác, tham vấn và những cơ chế giải quyết
tranh chấp thay thế phù hợp khác. Khi những nỗ lực trên thất bại, tranh chấp được
giải quyết thông qua các Ban hội thẩm công bằng. Cơ chế giải quyết tranh chấp
quy định trong Chương này áp dụng cho toàn bộ Hiệp định, ngoại trừ một số trường
hợp cụ thể.
Công chúng của mỗi nước TPP
có thể theo dõi tiến trình tố tụng vì tất cả các đệ trình, các phiên điều trần
(trừ khi các nước TPP có thỏa thuận khác) đến báo cáo cuối cùng của ban hội thẩm
đều được công khai với công chúng. Các Ban hội thẩm sẽ xem xét các yêu cầu cung
cấp quan điểm liên quan đến vụ tranh chấp từ các tổ chức phi chính phủ nằm
trong lãnh thổ của nước có tranh chấp.
Nếu quá trình tham vấn thất
bại, các nước TPP có quyền yêu cầu thành lập một ban hội thẩm trong vòng 60
ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn hoặc trong vòng 30 ngày nếu tranh chấp
có liên quan đến hàng hóa dễ hỏng.
Ban hội thẩm gồm 3 chuyên
gia về thương mại quốc tế và lĩnh vực liên quan đến vụ tranh chấp, độc lập với
các nước TPP tranh chấp, cùng với quy chế thành lập ban hội thẩm kể cả trường hợp
một nước thành viên không bổ nhiệm hội thẩm viên trong một thời hạn nhất định.
Các hội thẩm viên phải tuân thủ một bộ quy tắc ứng xử để đảm bảo tính thống nhất
của cơ chế giải quyết tranh chấp. Ban hội thẩm sẽ gửi báo cáo đầu tiên cho các
nước TPP tranh chấp trong vòng 150 ngày kể từ ngày bổ nhiệm hội thẩm viên cuối
cùng hoặc 120 ngày trong trường hợp khẩn cấp, chẳng hạn như các trường hợp liên
quan đến hàng hóa dễ hỏng.
Báo cáo đầu tiên sẽ được giữ
bí mật để nước TPP tham gia đóng góp ý kiến. Báo cáo cuối cùng phải được gửi
không quá 30 ngày sau báo cáo thứ nhất và phải được công khai trong thời hạn 15
ngày, tùy thuộc vào độ bảo mật của báo cáo.
Để tối đa hóa sự tuân thủ
Hiệp định, chương này cho phép áp dụng trả đũa thương mại (ví dụ, tạm dừng cung
cấp các lợi ích) nếu một bên không tuân thủ các nghĩa vụ mình và cũng không có
biện pháp khắc phục. Trước khi biện pháp trả đũa thương mại được áp dụng, bên
vi phạm có thể thương lượng hoặc yêu cầu một khoảng thời gian hợp lý để khắc phục
vi phạm.
29./ Chương 29 - Trường hợp ngoại lệ:
Chương về Trường hợp ngoại
lệ đảm bảo các nước TPP có quyền linh hoạt áp dụng TPP miễn là các nước TPP đảm
bảo đầy đủ các lợi ích công cộng, kể cả lợi ích an ninh thiết yếu và lý do phúc
lợi công cộng khác.
Chương này kết hợp các trường
hợp ngoại lệ chung được quy định tại Điều XX của Hiệp định chung về Thuế quan
và Thương mại 1994 quy định về thương mại hàng hóa, theo đó Hiệp định này không
ngăn cản các nước TPP áp dụng hoặc thi hành các biện pháp cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng, bảo vệ cuộc sống và
sức khỏe của con người, động vật hoặc thực vật, bảo vệ tài sản trí tuệ, thực
thi các biện pháp liên quan đến các sản phẩm do tù nhân tạo ra, và các biện
pháp liên quan đến bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể bị cạn kiệt.
Chương này cũng bao gồm các
trường hợp ngoại lệ chung tương tự quy định tại Điều XIV của Hiệp định chung về
Thương mại dịch vụ liên quan đến các quy định thương mại dịch vụ.
Chương này quy định một ngoại
lệ tự đánh giá áp dụng cho toàn bộ Hiệp định TPP. Theo đó, một Bên có quyền
dùng bất cứ biện pháp cần thiết nào để bảo vệ lợi ích an ninh cơ bản của mình.
Chương này cũng xác định
hoàn cảnh và điều kiện mà một Bên có thể áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời
(chẳng hạn như kiểm soát vốn) để hạn chế giao dịch - như góp vốn, chuyển lợi
nhuận và cổ tức, thanh toán lãi hoặc tiền bản quyền, và các khoản thanh toán
theo hợp đồng - liên quan để đầu tư theo Hiệp định để đảm bảo các chính phủ
linh hoạt quản lý các dòng vốn biến động, tùy thuộc vào tình hình cán cân thanh
toán hoặc các cuộc khủng hoảng kinh tế khác hoặc mối đe dọa từ khủng hoảng.
Ngoài ra, các nước TPP
không có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin theo TPP nếu nó trái với pháp luật của
mình hoặc lợi ích công cộng, hoặc làm phương hại đến lợi ích thương mại hợp
pháp của các doanh nghiệp cụ thể. Một nước TPP được quyền phủ quyết lợi ích của
việc giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước đối với một vụ việc liên
quan đến một biện pháp kiểm soát thuốc lá của nước thành viên đó.
30./ Chương 30 - Điều khoản
thi hành:
Chương này quy định hiệu lực
thi hành của TPP, cách thức sửa đổi, các quy tắc thiết lập quy trình để các quốc
gia hay vùng lãnh thổ khác tham gia TPP trong tương lai, hình thức rút khỏi Hiệp
định TPP, và ngôn ngữ chính thức của TPP. Hiệp định cũng thành lập một cơ quan
lưu chiểu có trách nhiệm tiếp nhận và phổ biến các tài liệu.
Chương này đảm bảo rằng TPP
có thể được sửa đổi với điều kiện tất cả các nước TPP đồng ý và sau khi mỗi nước
TPP đã hoàn thành thủ tục pháp lý của mình và thông báo cho Cơ quan lưu chiểu bằng
văn bản. Hiệp định TPP cho phép các
thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương và các nước khác
hoặc vùng lãnh thổ khác gia nhập nếu được các nước TPP đồng thuận, sau khi hoàn
tất các thủ tục pháp lý được áp dụng tại mỗi nước TPP.
Chương này cũng quy định
các thủ tục cần thực hiện khi một Bên muốn rút khỏi Hiệp định TPP.
****************************
Tel: 0918 407070
&&&&&
****************